Thứ Sáu, 14 tháng 4, 2017

NGUYỄN TUÂN VÀ TRUYỆN NGẮN CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ

CHUYÊN ĐỀ:
NGUYỄN TUÂN VÀ TRUYỆN NGẮN CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ
I. TÁC GIA NGUYỄN TUÂN
Nguyễn Tuân (10 /7 /1910 – 28 /7/1987) là một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam. Sách giáo khoa hiện hành xếp ông vào một trong 9 tác giả của văn học Việt Nam hiện đại. Ông viết văn với một phong cách tài hoa uyên bác và được xem là bậc thầy trong việc sáng tạo và sử dụng tiếng Việt. Hà Nội có một con đường mang tên ông.
1. Con người Nguyễn Tuân
1.1/ Sơ lược tiểu sử
Ông quê ở xã Nhân Mục (tên nôm là Mọc), thôn Thượng Đình, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ông sinh trưởng trong một gia đình nhà Nho khi Hán học đã tàn.
Nguyễn Tuân học đến cuối bậc thành chung (trung học cơ sở) thì bị đuổi vì tham gia một cuộc bãi khóa phản đối mấy giáo viên Pháp nói xấu người Việt (1929). Sau đó ít lâu ông lại bị tù vì "xê dịch" qua biên giới không có giấy phép. Ở tù ra, ông bắt đầu viết báo, viết văn.
Nguyễn Tuân cầm bút từ khoảng đầu những năm 1930, nhưng nổi tiếng từ năm 1938 với các tác phẩm tùy bút, bút ký có phong cách độc đáo như Vang bóng một thời, Một chuyến đi... Năm 1941, Nguyễn Tuân lại bị bắt giam một lần nữa vì giao du với những người hoạt động chính trị.
Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, Nguyễn Tuân nhiệt tình tham gia cách mạng và kháng chiến, trở thành một cây bút tiêu biểu của nền văn học mới. Từ 1948 đến 1958, ông giữ chức tổng thư kí Hội Văn nghệ Việt Nam.
Các tác phẩm chính sau cách mạng của Nguyễn Tuân là tập bút ký Sông Đà (1960), một số tập ký chống Mỹ (1965-1975) và nhiều bài tùy bút về cảnh sắc và hương vị đất nước.
Nguyễn Tuân mất tại Hà Nội vào năm 1987, để lại một sự nghiệp văn học phong phú với những trang viết độc đáo và đầy tài hoa. Năm 1996 ông được Nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I).
1.2/Vài nét tính cách
- Nguyễn Tuân là một trí thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Lòng yêu nước của ông có màu sắc riêng: gắn liền với những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc. Ông yêu tha thiết tiếng mẹ đẻ, những kiệt tác văn chương của Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Tú Xương, Tản Đà..., những nhạc điệu hoặc đài của các lối hát ca trù hoặc dân dã mà thiết tha của giọng hò Quảng Trị, Thừa Thiên, Nam Bộ..., những phong cảnh đẹp của quê hương đất nước, những thú chơi tao nhã như uống trà, nhắm rượu, chơi hoa, chơi chữ đẹp, đánh thơ, thả thơ..., những món ăn truyền thống thể hiện khẩu vị tinh tế của người Việt.
- Ở Nguyễn Tuân, ý thức cá nhân phát triển rất cao. Ông viết văn trước hết để khẳng định cá tính độc đáo của mình. Ông ham du lịch, tự gán cho mình một chứng bệnh gọi là "chủ nghĩa xê dịch". Lối sống tự do phóng túng của ông không phù hợp với chế độ thuộc địa (hai lần bị tù).
- Nguyễn Tuân là con người rất mực tài hoa. Tuy chỉ viết văn nhưng ông còn am hiểu nhiều môn nghệ thuật khác: hội hoạ, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh... Ông còn là một diễn viên kịch nói có tài và là một diễn viên điện ảnh đầu tiên ở nước ta. Ông thường vận dụng con mắt của nhiều ngành nghệ thuật khác nhau để tăng cường khả năng quan sát, diễn tả của nghệ thuật văn chương.
- Nguyễn Tuân là một nhà văn biết quý trọng thật sự nghề nghiệp của mình. Ngay từ trước Cách mạng tháng Tám, ông đã quan niệm nghề văn là một cái gì đối lập với tính vụ lợi kiểu con buôn, và ở đâu có đồng tiền phàm tục thì ở đấy không thẻ có cái đẹp. Đối với ông, nghệ thuật là một hình thái lao động nghiêm túc, thậm chí "khổ hạnh" và ông đã lấy chính cuộc đời cầm bút hơn nửa thế kỷ của mình để chứng minh cho quan niệm ấy.
1.3/ Sự nghiệp văn chương
a/Quá trình sáng tác và các đề tài chính của Nguyễn Tuân
Nguyễn Tuân không phải là nhà văn thành công ngay từ những tác phẩm đầu tay. Ông đã thử bút qua nhiều thể loại: thơ, bút kí, truyện ngắn hiện thực trào phúng. Nhưng mãi đến đầu năm 1938, ông mới nhận ra sở trường của mình và thành công xuất sắc với các tác phẩm: Một chuyến đi, Vang bóng một thời, Thiếu quê hương, Chiếc lư đồng mắt cua... Tác phẩm Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám chủ yếu xoay quanh ba đề tài: "chủ nghĩa xê dịch", vẻ đẹp "vang bóng một thời", và "đời sống truỵ lạc".
- "Chủ nghĩa xê dịch" vốn là một lí thuyết vay mượn của phương Tây, chủ trương đi không mục đích, chỉ luôn luôn thay đổi chỗ để tìm cảm giác mới lạ và thoát li mọi trách nhiệm với gia đình và xã hội. Nguyễn Tuân đã tìm đến lí thuyết này trong tâm trạng bất mãn và bất lực trước thời cuộc. Nhưng viết về "chủ nghĩa xê dịch", Nguyễn Tuân lại có dịp bày tỏ tấm lòng gắn bó tha thiết của ông đối với cảnh sắc và phong vị của đất nước mà ông đã ghi lại được bằng một ngòi bút đầy trìu mến và tài hoa (Một chuyến đi).
- Không tin tưởng ở hiện tại và tương lai, Nguyễn Tuân đi tìm vẻ đẹp của quá khứ còn "vang bóng một thời". Ấy là thời phong kiến đã qua nhưng dư âm còn vang vọng lại. ông không viết về trật tự xã hội, về tư tưởng đạo đức cũ, mà mô tả vẻ đẹp riêng của thời xưa với những phong tục đẹp, những thú tiêu dao hưởng lạc lành mạnh và tao nhã, những cách ứng xử giữa người với người đầy nghi lễ nhịp nhàng... Tất cả được thể hiện thông qua những con người thuộc lớp người nhà nho tài hoa bất đắc chí, tuy đã thua cuộc nhưng không chịu làm lành với xã hội thực dân (trong số này cũng có những người có khí phách ngang tàng như Huấn Cao (Chữ người tử tù) chẳng hạn).
- Nguyễn Tuân cũng hay viết về đề tài đời sống truỵ lạc. Ở những tác phẩm này, người ta thường thấy có một nhân vật "tôi" hoang mang bế tắc, tìm cách thoát li trong đàn hát, trong rượu và thuốc phiện. Trong tình trạng khủng hoảng tinh thần ấy, người ta thấy đôi khi vút lên từ cuộc đời nhem nhuốc, phàm tục niềm khao khát một thế giới tinh khiết, thanh cao, được nâng đỡ trên đôi cánh của nghệ thuật (Chiếc lư đồng mắt cua).
- Lòng yêu nước và thái độ bất mãn với xã hội thực dân đã đưa Nguyễn Tuân đến với cách mạng và kháng chiến. Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông chân thành đem ngòi bút phục vụ cuộc chiến đấu của dân tộc, theo sát từng nhiệm vụ chính trị của đất nước. Nhưng Nguyễn Tuân luôn luôn có ý thức phục vụ trên cương vị của một nhà văn, đồng thời vẫn muốn phát huy cá tính và phong cách độc đáo của mình. Ông đã đóng góp cho nền văn học mới nhiều trang viết sắc sảo và đầy nghệ thuật ca ngợi quê hương đất nước, ca ngợi nhân dân lao động trong chiến đấu và sản xuất.
b/ Phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân
Phong cách nghệ thuật chính là diện mạo thẩm mĩ độc đáo, riêng biệt của nhà văn trong cách sáng tác, được tạo thành bởi sự thống nhất của các phương tiện biểu hiện, phù hợp với cái nhìn riêng biệt của nhà văn về đời sống. Phong cách nghệ thuật được hình thành nhờ sự lặp đi lặp lại một số yếu tố thuộc phạm trù nội dung và hình thức một cách có thẩm mĩ, xuyên suốt sự nghiệp sáng tác của tác giả. Đặc trưng nhất quán đầu tiên của phong cách nghệ thuật là tính thống nhất, ổn định, bền vững. Phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân không nằm ngoài đặc điểm này. Nguyễn Tuân có một phong cách nghệ thuật rất độc đáo và sâu sắc.
*Trước CMT8: Phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân ( NT) có thể thâu tóm trong một chữ NGÔNG. Ngông là thái độ khinh đời, ngạo đời, dựa trên tài hoa, sự uyên bác và nhân cách hơn đời của mình - Ngày xưa, Nguyễn Công Trứ có câu thơ rất ngông:
Trời đất cho ta một cái tài
Giắt lưng dành để tháng ngày chơi
- NT là 1 người tài hoa uyên bác: Sự tài hoa uyên bác của ông thể hiện ở các điểm sau:
+ Tiếp cận mọi sự vật ở mặt văn hóa thẫm mĩ để khám phá và... khen chê. (Nguyễn Tuân luôn say mê truy tìm vẻ đẹp độc đáo của con người và cuộc sống).
 + Vận dụng trí thức của nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật để quan sát hiện thực, sáng tạo hình tượng.
+ Nhìn người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ, tạo nên những nhân vật tài hoa để...đem đối lập với những con người bình thường, phàm tục. Con người trong văn Nguyễn Tuân bao giờ cũng đẹp với vẻ tài hoa nghệ sĩ trong nghề nghiệp của mình. Với Nguyễn Tuân những người bình thường khi thực hiện những công việc bình thường trong phạm vi nghề nghiệp của mình nếu đạt tới một trình độ tinh xảo, nhuần nhuyễn, khéo léo mà người khác khó lòng theo kịp thì được coi là một kẻ tài hoa: "mỹ thuật vốn không có bà con luận lí với thời đại, một thằng ăn cắp cũng trở lên đẹp đẽ khi nó cắt túi người ta rất gọn, rất nhanh".
 + Tô đậm cái phi thường, gây cảm giác mãnh liệt dữ dội. Nguyễn Tuân là ông thường miêu tả những cảnh đẹp tuyệt mỹ, tuyệt đích; cái đẹp ấy là sự hội tụ của cái đẹp thi vị trữ tình và vẻ đẹp hoàng tráng dữ dội đến dữ dằn.
 - NT là 1 con người có nhân cách đạo đức hơn đời: chổ dựa ở thái độ "ngông" của ông không chỉ ở sự tài hoa uyên bác mà còn ở đạo đức hơn đời của ông. Cái gốc của nhân cách đạo đức của NT là lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, niềm tha thiết với cái đẹp của văn nghệ, của phong tục tập quán, của thiên nhiên và những thú chơi tao nhã.
 ->  Trước cách mạng, Nguyễn Tuân tách rời cái đẹp khỏi cái có ích, đề cao cái đẹp thuần tuý, không vụ lợi. Ông nâng niu, trân trọng và khao khát cái đẹp. Nguyễn đã quay ngược thời gian tìm cái đẹp trong quá khá, ít quan tâm đến thực tại. Ông tìm đến những con người mang nét tài hoa thiên về lĩnh vực nghệ thuật. (CNTT: Vui say với cái đẹp của nghệ thuật thư pháp, trân trọng cái thiên lương, trong sáng, nhân cách hơn đời của Huấn Cao ( Bóng dáng nhà nho) nhưng nhà văn vẫn trầm ngâm nuối tiếc bởi Huấn Cao sẽ phải chịu án và lìa xa cõi đời).
 - Nguyễn Tuân còn có đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của ngôn ngữ văn học Việt Nam. Ông có một kho từ vựng phong phú và một khả năng tổ chức câu văn xuôi đầy giá trị tạo hình, lại có nhạc điệu trầm bổng và, như Nguyễn Tuân thường nói, biết co duỗi nhịp nhàng. Nhận xét về phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân, Anh Đức viết: "Không biết chừng nào mới lại có một nhà văn như thế, một nhà văn mà khi ta gọi là một bậc thầy của ngôn từ ta không hề thấy ngại miệng, một nhà văn độc đáo, vô song mà mỗi dòng, mỗi chữ tuôn ra đầu ngọn bút đều như có đóng một dấu triện riêng".
 3. Kết luận
Có người nói, Nguyễn Tuân là một cái định nghĩa về người sĩ. Đối với ông, văn chương trước hết phải là văn chương, nghệ thuật trước hết phải là nghệ thuật, và đã là nghệ thuật thì phải có phong cách độc đáo. Nhưng Nguyễn Tuân, xét từ bản chất, không phải là người theo chủ nghĩ hình thức. Tài phải đi đôi với tâm. Ấy là "thiên lương" [5] trong sạch, là lòng yêu nước thiết tha, là nhân cách cứng cỏi trước uy quyền phi nghĩa và đồng tiền phàm tục.
Người đọc mến Nguyễn Tuân về tài, nhưng còn trọng ông về nhân cách ấy nữa. Văn Nguyễn Tuân, tuy thế, không phải ai cũng ưa thich. Vả lại một số bài viết của ông cũng có nược điểm: mạch văn quá phóng túng theo lối tùy hứng, khó theo dõi; nhiều đoạn tham phô bày kiến thức và tư liệu khiến người đọc cảm thấy nặng nề...
II. Tìm hiểu quan niệm về cái đẹp của Nguyễn Tuân trong Vang bóng một thời
Nhà văn Nguyễn Đình Thi nhận xét: “Nguyễn Tuân là nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp và cái thật”. Có thể nói trong suốt cuộc đời, bằng ngòi bút điêu luyện của mình, Nguyễn Tuân đã làm cho cái đẹp thăng hoa. Vang bóng một thời – tập truyện ngắn đặc sắc của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám chính là một chặng quan trọng trong hành trình đi tìm cái đẹp của nhà văn.
Muốn hiểu được quan niệm về cái đẹp của nhà văn rất phức tạp này, thiết nghĩ phải quay về thời đại Nguyễn Tuân sống trước Cách mạng tháng Tám.
Ở thời kì này, xã hội Việt Nam có sự phân hóa rõ rệt. Không phải ai cũng may mắn tìm thấy con đường đi đến với Cách mạng như một bộ phận tri thức lúc bấy giờ. Các nhà văn – chiến sĩ như Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Trần Huy Liệu, Sóng Hồng… đã tiếp thu được tư tưởng của giai cấp công nhân, coi thơ văn trước hết là vũ khí chiến đấu, là phương tiện để tuyên truyền, vận động cách mạng, quan niệm về cái đẹp của các nhà văn – chiến sĩ này gắn liền với tư tưởng cải tạo xã hội. Trong khi đó, đại bộ phận tầng lớp văn nghệ sĩ (trong đó có Nguyễn Tuân), mặc dù có tinh thần dân tộc song không có điều kiện để tiếp thu tư tưởng cách mạng, chẳng biết làm gì hơn là viết văn, viết báo. Đối với những văn nghệ sĩ này, viết văn là một cách để họ thể hiện thái độ của mình.
Qua những trang văn, Nguyễn Tuân lên tiếng phản đối cái xã hội “Ối a ba phèng” lúc đó hoặc thực hiện chủ trương xê dịch, giang hồ. Đó cũng là cách quay lưng lại với xã hội, là cách phản ứng trước những sự tấm thường, xô bồ, hỗn độn của đời sống. Có điều những trang văn, những chuyến xê dịch giang hồ ấy, ngoài chuyện để quay lưng lại với xã hội, tự bản thân chúng còn làm thỏa mãn một nhu cầu có tính chất tối thượng của nhà văn: đi tìm cái đẹp.
Nguyễn Tuân luôn khao khát đi tìm “cái đẹp và cái thực” song trong thời đại mà Nguyễn Tuân sống, cái đẹp chân chính thật không dễ tìm chút nào, nói như nhà văn Nguyễn Đình Thi thì “Trong cuộc đời ông sống, cái đẹp và cái thật không bao giờ khớp được với nhau”. Có lẽ vì thế Nguyễn Tuân phải đi tìm cái đẹp trong quá khứ và tìm ngay trong chính tâm tưởng, cảm giác của mình.
Đọc những sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám, ta dễ thấy nét giống nhau của Nguyễn Tuân với các nhà văn lãng mạn khác, đó là sự đề cao cái đẹp một cách thuần túy, không vụ lợi. Có lẽ vì thế mà Nguyễn Tuân quan niệm “viết văn không khuynh hướng”. Cái đẹp, văn chương cũng như nghệ thuật, theo ông, không có nội dung xã hội, giai cấp và thời đại. Nhà văn Nguyên Ngọc nhận xét: “Nguyễn Tuân luôn muốn mỗi ngày sống, mỗi trang đời của mình cũng là một trang nghệ thuật”. Chính thái độ nâng niu, trân trọng cái đẹp và với cách nhìn nghiêng về nghệ thuật của ông đã tạo nên một Nguyễn Tuân “vị nghệ thuật” trong văn chương.
Đọc Vang bóng một thời, người đọc có thể nhận thấy quan niệm của Nguyễn Tuân về cái đẹp. Quan niệm này được thể hiện trong nét lớn sau:
 1. Cái nhìn hướng về quá khứ.
Không chấp nhận hiện tại, cái nhìn của Nguyễn Tuân hướng về quá khứ. Mỗi truyện ngắn trong Vang bóng một thời không ít thì nhiều đã làm sống lại những phong tục tập quán dân tộc, những thú chơi tao nhã gắn liền với những ông nghè, ông cử đã thất thế song vẫn cố giữ thói quen thanh cao, lịch lãm trong một xã hội có nhiều nhiễu nhương.
Truyện Những chiếc ấm đất kể về một ông cụ Sáu mê uống trà tầu, mà nước pha trà phải là thứ nước lấy ở cái giếng tận trên chùa Đồi Mai. Nhà văn mượn lời sư cụ chùa Đồi Mai để nói về ông cụ Sáu “Danh và lợi, ông ta không màng. Phá gần hết cơ nghiệp ông cha để lại, ông ta thực đã coi cái phú quí nhãn tiền không bằng một ấm trà tầu”. Cứ nhìn cái cách ông cụ nâng niu những chiếc ấm đất của mình, am hiểu tường tận về từng chiếc kim hỏa của chiếc ấm, mới thấy hết cái thú uống trà tầu ở con người này. Kể cả khi thất cơ lỡ vận, ông cụ Sáu vẫn “quen thói phong lưu, nhiều khi qua chơi ao sen nhà ai, gặp mùa hoa nở, cụ còn cố bứt lấy ít nhị đem ướp luôn vào gói trà giắt trong mình, nếu đấy là trà mạn cũ”. Con người xem việc uống trà như là một công việc quan trọng nhất của đời mình ấy đã có lúc phải ngồi bán đi lũ ấm đất của mình, lũ ấm đất “ngày trước giá có chồng ngay cọc bạc nén cho trông thấy, chưa chắc cụ đã bán cho một chiếc”. Ẩn sau cái cười “hề hề” của ông cụ khi tiết lộ cái mẹo nhỏ là bán thân ấm rồi mới bán đến nắp ấm, ta thấy cả mỗi một nỗi lòng xót xa, đứt ruột!
Chén trà trong sương sớm lại còn miêu tả tỉ mỉ hơn cái thú uống trà của lớp người xưa cũ ấy. Cụ Ấm trong truyện có thói quen uống trà từ rất sớm, từ lúc “trời còn tối đất”. Không khí của những buổi uống trà sớm ấy thật đặc biệt. Nổi bật lên trên khung cảnh tĩnh lặng và tinh khiết của buổi sớm là hình ảnh cụ Ấm “Sau màn khói, ẩn hiện một ông già chống nạnh ngồi bên gối xếp, cặp mắt liêu xiêu như một nhà sư nhập định, vẻ nghiêm trang lặng thinh của ông già muốn làm ngừng cả khói trắng hiếu động đang trôi trong không khí gian nhà gạch…”. Cùng với ông cụ Ấm, hình ảnh cái hỏa lò hiện ra thật sống động dưới ngòi bút miêu tả của Nguyễn Tuân: “Hòn than tầu lép bép nổ, nghe rất vui tai… Những hòn than cháy đều, màu đỏ ửng, có những tia lửa xanh lè vờn ở chung quanh. Không khí mỗi lúc dao động càng nâng cao thêm những ngọn lửa xanh nhấp nhô. Hòn lửa rất ngon lành, trở nên một khối đỏ tươi và trong suốt như thỏi vàng thổi chảy”. Cách uống trà của ông cụ quả là rất cầu kì, có thể nói đã giống như một thứ lễ nghi. Chưa bao giờ ông cụ dám cẩu thả trong cái “thú chơi thanh đạm” này mà đã để vào đấy bao nhiêu công phu, bởi vì theo cụ “trong ấm trà pha ngon, người ta chịu nhận thấy một chút mùi thơ và một tị triết lí và tâm lí”. Hỏa lò, những ấm trà, và nước pha trà thơm lành đọng trong lá sen.. tất cả sự cầu kì và công phu ấy dường như đã được đền đáp vì xung quanh ấm trà là những người tao nhã, cùng “một thanh khí” với nhau.
Đối với gia đình cụ Ấm, việc uống trà còn gắn liền với việc bình văn, ngâm thơ buổi sớm. Giọng ngâm “trong và dài” của người con trưởng cụ Ấm vang lên trong không khí tĩnh lặng, trong lành của buổi sớm mai thực đã gợi ra nét văn hóa của một thời. Việc uống trà, bình văn, ngâm thơ buổi sớm, theo cụ Ấm còn là một cách “vận động thần khí kì diệu nhất của một người sống bằng cuộc đời tâm tưởng bên trong. Mỗi buổi ngâm như thế là đủ tiết hết ra ngoài những cái nặng nề trong thân thể và để đón lấy khí lành đầu tiên của trời đất” … Với Chén trà trong sương sớm, Nguyễn Tuân đã giúp ta hiểu thêm về một thú chơi nhã đạm của cha ông trong quá khứ, Và không phải riêng Nguyễn Tuân, người đọc ở những năm đầu thế khỉ XXI này cũng cảm thấy bâng khuâng, tiếc nuối!
Hương cuội cũng làm người đọc thích thú, thán phục bởi một kiểu tiêu khiển khác, vừa quen thuộc vừa độc đáo của cụ Kép, con người “nguyện đem cả quãng đời xế chiều của một nhà nho để phụng sự lũ hoa thơm cỏ quý”. Hình ảnh cụ Kép trong truyện tạo cho người đọc cảm giác về sự ẩn dật, lánh đời, thoát tục: “Trong cái vườn cây nhỏ, trong đám cỏ cây xanh rờn, những buổi sớm tinh mơ và những buổi chiều tàn nắng, người ta thường thấy một ông già lông mày bạc, tóc bạc mặc áo lông trắng lom khom tỉa những lá úa vàng trong đám lá xanh”. Lòng yêu hoa của cụ Kép thật đặc biệt “mỗi lần có người động mạnh vào giò lan đen, cụ Kép lại suýt xoa như có người châm kim vào da thịt mình”.
Với truyện ngắn này, Nguyễn Tuân đã giúp người đọc hình dung được cái không khí rất đặc trưng của những ngày Tết cổ truyển Việt Nam. Ngày 30 Tết, cả nhà cụ Kép đạng bận bịu dọn dẹp để ăn Tết. Mợ Ấm cả, mợ Ấm hai ngồi lau lá dong chăm chỉ còn lũ con trai thì “đang đánh bóng ngoài sân những lư, đỉnh, cây đèn nến bằng đồng mắt cua và bằng thiếc sông Ngâu”. Riêng cụ Kép và người bõ già thì lại bận bịu một công việc khác: chuẩn bị cho bữa rượu kẹo mạch nha có nhân đá cuội được ủ trong những chậu hoa lan thơm ngát. Công việc để chuẩn bị cho tiệc rượu độc đáo này được nhà văn miêu tả tỉ mỉ làm sao! Những viên đá cuội trắng tinh đã được rửa thật sạch, được lựa chọn thật kĩ, bây giờ được đem ra dúng vào nồi kẹo mạch nha đã nguội, rồi cuối cùng được người bõ già “đem đặt rất nhẹ nhàng lên trên lượt đá lót trên nền đất chậu hoa”. Sau đó những chiếc lồng bàn bằng giấy sẽ được úp cẩn thận lên những chậu mặc lan sắp nở hoa kia. Bữa tiệc rượu đặc biệt thanh tịnh được mở đầu rất ấn tượng: “Bõ già vòng tay vái các cụ và đợi các cụ yên vị rồi thì khom khom mở từng chiếc lồng bàn giấy một. Một mùi hương lan bị bỏ tù trong bầu không khí lồng bàn giấy phất từ đêm qua, đến bây giờ vội tản bay khắp vườn cây. Bốn cụ già và bõ già đánh hơi mũi, những cặp mắt kém cỏi đăm đăm nhìn kỹ khoảng không trong vắt như có ý theo dõi luồng hương thơm đang thâm nhập dần vào các lớp khí trời. Cơn gió nhẹ pha loãng hương thơm đặc vào không gian”. Những viên kẹo nhân đá ướp hương hoa, chén rượu tăm, và “Tiếng ngâm thơ quyến rũ đến cả tâm hồn” trong cái êm ấm của buổi chiều xuân… tất cả đã nói lên rất nhiều trân trọng của nhà văn trước thú vui nhã đạm này. Phải là người có vốn sống phong phú, có sự hiểu biết sâu sắc và yêu mến biết bao nhiêu những phong tục tập quán cổ truyền của dân tộc mới có thể viết được những trang văn tinh tế đượm tấm lòng trìu mến như thế.
Nguyễn Tuân còn đặc biệt thích thú trước tục thả thơ, đánh thơ. Chính vì vậy, trong Vang bóng một thời, ông đã dành cả hai truyện ngắn cho đề tài này. Cũng như các truyện ngắn khác trong tác phẩm, hai truyện ngắn Thả thơĐánh thơ - nói như giáo sư Hoàng Như Mai – đã tạo cho ta những “khoái cảm thẩm mĩ đặc biệt” bởi vì nhà văn “đã dạy cho ta nghệ thuật sống để tận hưởng ý vị tinh túy, sâu sắc của cuộc sống”. Đây là hai truyện ngắn tiêu biểu đã đề cao, làm sống lại một thú chơi tao nhã đã đang dần bị mai một trong hiện tại. Rất nhiều người có lẽ đã phải cảm ơn Nguyễn Tuân vì qua những truyện ngắn như thế này, họ đã biết được, hiểu được thú tiêu khiển cổ xưa mang đậm chất bác học, tài hoa và dân tộc của cha ông. Hãy chú ý lắng nghe lời giải thích của cô Tú – con cụ nghè Móm, về hai chữ “Thả thơ” cho lũ học trò nhỏ tuổi để có thể hình dung thứ công việc vừa công phu lại vừa thú vị này: “Thầy sẽ viết vào mảnh giấy trắng một câu thơ bảy chữ mà chỉ có sáu chữ thôi. Còn một chữ thì bỏ trống và thay vào đấy một cái khuyên tròn. Cái khuyên tròn thay chữ đó thường gọi là chữ vòng…”
Đánh thơ được tác giả gọi là “Một cuộc đỏ đen rất trí thức” trong truyện gắn liền với đôi vợ chồng lãng tử: ông Phó Sứ và Mộng Liên. Cuộc đánh thơ với tiếng đàn, giọng hát đã thu hút nhiều hạng người. Có những người đến không chỉ vì tiền mà là vì yêu thích văn chương. Đối với họ - những ông Hậu bổ, Thông phán tỉnh, Kinh lịch – được hay thua “cũng đều lấy làm thích cả”. Họ đến với cuộc thả thơ đôi khi chỉ là để được nghe những tiếng ngâm thơ trên làn nước lạnh, những “thanh âm nghe trong trẻo, du dương và thái bình như tiếng vang của một hội tao đàn nào”. Thả thơ đã đưa lại cho họ những phút giây hứng thú đặc biệt: “Mỗi lúc ngâm lên, cái hay của câu thơ đã làm cho bọn mình lạnh hết cả người”. Thế nhưng đến với cuộc thả thơ còn có cả những hạng người khác nữa. Nguyễn Tuân đã không dè dặt mỉa mai, châm biếm hạng người “dốt cay dốt đắng”, đã không biết thưởng thức thơ hay mà chỉ “mỏi tay vơ tiền”. Họ chính là những ông huyện Bình Khê “người trông đứng đắn thế vậy mà nhảm lạ…”.
Cũng từ góc độ về cái đẹp, Nguyễn Tuân đã tỏ ra hết sức tinh tường, sắc sảo khi phát hiện ra những nét phản thẩm mĩ, những cái xấu xa của hạng người trưởng giả trong xã hội Tây Tàu nhố nhăng. Theo nhà phê bình Hà Văn Đức, Nguyễn Tuân đã lên án bọn người này không phải theo quan điểm về giai cấp mà xuất phát từ góc độ thẩm mỹ. Đây là nhận xét rất đúng. Trong tập Vang bóng một thời, Nguyễn Tuân ghét cay ghét đắng hạng người trưởng giả không phải chúng áp bức bóc lột người nghèo mà vì chúng không biết thưởng thức cái đẹp, “ngồi xổm lên cái đẹp”. Như vậy, khác với các nhà văn hiện thực phê phán cùng thời, Nguyễn Tuân đã phản ứng lại cái xã hội kim tiền trên phương diện mỹ học. Những đối tượng mà Nguyễn Tuân hay nhắm tới là những ông huyện Bình Khê (Đánh thơ) là những kẻ “ít chữ” song sung sướng được “Lạm dự vào làng thơ phú” (Thả thơ). Đó còn là ông huyện Thọ Xương, “Một người có tâm thuật rất hèn kém”… Ở những truyện khác, Nguyễn Tuân có “Lối đánh mà người ta gọi là bỏ nhỏ, nhẹ mà đau điếng” (Hoàng Như Mai). Trong truyện Những chiếc ấm đất, tác giả để cho người khách của ông cụ Sáu kể một câu chuyện cổ tích. Đó là câu chuyện về một “tên ăn mày cổ quái” dám xin gia chủ cho uống trà tàu, mà lại xin uống cả ấm. Thế rồi điều bất ngờ đã xảy ra. Chính tên ăn mày chứ không là ai khác đã nhận ra vị trấu tạp lẫn trong hương vị thanh khiết của trà! Rõ ràng qua câu chuyện, nhà văn đã tỏ thái độ coi thường hạng người trọc phú, nhiều tài lắm của nhưng lại chẳng tinh tế chút nào. Về phương diện này, lão phú hộ giàu có trong truyện đã không bằng được một kẻ ăn mày. Ở Chén trà trong sương sớm, Nguyễn Tuân nói tới những ông khách tạp “uống trà rất tục”. Đối với “mấy thầy làm việc bên bảo hộ” có cách uống trà như uống giải khát này, theo nhà văn, phải uống thứ nước trà “pha sẵn trong bình tích” mới thật thích hợp. Uống trà – “lối giao du của cổ nhân đạm bạc”, nói như ông cụ Ấm trong truyện là không thể “ồn ào, huyên náo như bây giờ”…
        Phê phán hạng người trọc phú, những kẻ dốt nát, đề cao và hướng cái nhìn của mình vào quá khứ, vào những thú tiêu khiển tao nhã nói trên, Nguyễn Tuân đã tỏ rõ thái độ của mình. Đó là thái độ bất mãn sâu sắc trước hiện thực. Có lúc, thái độ ấy thể hiện trong suy nghĩ chua chát của một ông cụ Kép (Hương Cuội): “Nhưng nghĩ mình chỉ là một anh nhà nho sống vào giữa buổi Tây Tàu nhố nhăng làm lạc mất cả quan niệm cũ, làm tiêu mất nhiều giá trị tinh thần…” Con người cho mình là “kẻ chọn nhầm thế kỷ” này chính vì vậy đã chọn việc uống rượu, chơi hoa làm một thứcông việc mang lại niềm vui cho mình trong buổi xế chiều của cuộc đời. Cũng có khi nhà văn lại mượn lời cô Tú (Thả thơ) để nói lên tâm sự bực dọc, chua chát của mình : "Ở đời ăn nhau may rủi, chữ nghĩa tài hoa mà làm gì"... Đó còn là thái độ nhớ tiếc những giá trị văn hóa tinh thần của một thời : "Từ Mậu Ngọ trở về sau, sẽ ở một thời khác, chữ Hán chỉ còn là một thứ xa xỉ phẩm trong cõi học vấn của một lớp người. Từ sau khoa này, cái lều, cái chõng chỉ còn là những vật cổ tích mỗi khi nhắc nhỏm lại gợi lại một chút nhớ tiếc trong lòng một đám người mệt mỏi còn sống thêm một ngày là cảng chỉ thêm bỡ ngỡ với phong vận mới" (Báo oán)
Quay lưng lại với xã hội đương thời nhưng rõ ràng Nguyễn Tuân đã không quay lưng lại vớinhững phong tục, truyền thống tốt đẹp vốn có của dân tộc,. Ông say sưa nói về việc thả thơ, đánh thơ, uống trà, làm đèn trung thu với một thái độ ca ngợi và nuối tiếc. Đọc những trang văn Nguyễn Tuân viết về những thú chơi tao nhã, về những phong tục đáng yêu đáng quý của dân tộc mớithấy được tinh thần yêu nước thầm kín, sự gắn bó, vốn hiểu biết sâu rộng về cuộc sống của ông.
 2. Quan niệm cái đẹp gắn liền với chất tài hoa tài tử.
        Trong các sáng tác trước và cả sau cách mạng Tháng Tám, Nguyễn Tuân thường chú ý đến chất tài hoa tài tử khi miêu tả và thể hiện con người. Với Nguyễn Tuân, cái đẹp thường đi đôi, gắn bó với cái tài, với chất nghệ sỹ, điều này cũng thống nhất với nét tài hoa, nghệ sỹ trong con người ông.
Trong Vang bóng một thời, Nguyễn Tuân tỏ lòng mến mộ, yêu quý những con người tài hoa mà thất thế hay những lãng tử giang hồ. Ở những nhân vậy này, nhà văn chẳng những khai thác khía cạnh tài hoa tài tử mà còn chú ý cả những điểm khác người, thậm chí đến mức lập dị, cầu kỳ của họ. Truyện Đánh thơ nói về một đôi vợ chồng lãng tử mà Nguyễn Tuân đã gọi họ bằng một cái tên trìu mến "Một lứa đôi tài tử". Mỗi tuần trăng, cặp tài tử này ở một tỉnh và chưa bao giờ"Nghĩ đến việc làm một cái tổ ở một chỗ nhất định nào". Ngay đến cả cái chết của kiếp con người, chất lãng tử cũng thật đậm nét khiến cho Nguyễn Tuân vừa ngậm ngùi thương tiếc lại vừa mến mộ : "Đi qua Hoành Sơn quan thấy cảnh đẹp, lòng sinh tình, hai ông mụ đã yêu nhau giữa một vùng trời nước bao la... Trúng cơn gió độc, ông Phó Sứ đã hóa ra ma chết sát ngay bên đường thiên lý"
Cụ Hồ Viễn trong Ngôi mã cũ vốn xuất thân từ tướng Cờ Đen oai phong lẫm liệt một thờinay vì thất thế mà trở thành một ông thầy địa lý nhưng vẫn giữ được nét tài tử, nghệ sĩ. Nhân vật cô Tú trong truyện đã kể cho đứa em nghe nhiều chuyện về cụ. Đó là một con người mà qua lờikể của cô chị, cậu Chiêu "thấy cả một huyền sử bộc chung quanh một tướng võ nghệ cao cường". Hình ảnh cụ Hồ lúc còn làm tướng Cờ Đen thật oai phong lẫm liệt : "Bên thắt lưng điều, cụ giắt hai khẩu súng. Phía bên trái là một khẩu đoạn mã và phía bên phải là một khẩu súng thập bát hưởng bắn một lúc được mười tám phát liền". Nhưng người ta còn nhớ đến con người này bởi một phong thái ung dung, tài tử: "Những lúc việc quân thong thả, cụ mặc áo dài "sường sám", đội mũ "sường chí" có những quả bông đỏ, cầm quạt... trông nhàn nhã và văn vẻ lắm". Viên tướng Cờ Đen này lại có nét chữ viết rất đẹp, rất tốt "Chữ thầy viết có gân cứng cỏi như lá thiếp... nét sổ rất khỏe và rất thẳng". Con người ấy, dù đã thất thế, vẫn cố giữ một nét sinh hoạt cầu kì "Thuốc phiện, nếu không phải là thứ một lạng đựng vào cóng thì không hút", vẫn để móng tay út lá lan "cuống hai vòng như râu rồng" và mỗi bận rửa ta thì phải lại có vài quả chanh. Chất tài hoa tài tử còn được thể hiện trong chi tiết ông cụ Hồ Viễn và cậu Chiêu đã đánh với nhau mấy ván cờ không có quân đi, không có bàn bày trên đường đi...
Trong Một cảnh thu muộn, ông Cử Hai là một mẫu người tải tử điển hình. Ông là "người có hoa tay" lại "thêm được chút tâm hồn lãng tử" nên "sống cuộc đời cũng như người ta chơi bời mà thôi. Người ấy thật là người không có lấy một giây phút trịnh trọng với nhân sinh. Ông ta sinh ra để mà đùa với cuộc sống và bắt đầu từ việc đem ngay cái tài hoa của mình ra mà đùa nhả với sựnghiệp thân thế mình". Làm công việc dạy học mà con người chịu ảnh hưởng nhiều của nhân sinh quan Lão Trang này không mấy chú tâm, chỉ thích đi hội Đạp Thanh để làm thơ tức cảnh, lên núi hái lá thuốc, ngắm trăng trên đỉnh Sài Sơn hoặc ẩn mình đối với nhân vật này. Phải chăng đó là sự gặp gỡ, là hiện thân của chất tài tử, của chủ nghĩa xê dịch trong Nguyễn Tuân ?
      Nói đến chất tài hoa tải tử, không thể không nhắc đến Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ ngườitử tù. Con người tài hoa ấy chẳng những có tài bẻ khóa, vượt ngục mà con có tài "viết chữ rất nhanh và đẹp" nổi tiếng cả tỉnh Sơn. Bao nhiêu người trong đó có viên quản ngục đã từng aoước "có được chữ của Huấn Cao mà treo là một báu vật trên đời". Thế nhưng không dễ gì xin được chữ của ông. Con người ấy đã từng nói với viên quản ngục "Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ. Đời ta cũng mới viết có hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân của ta thôi". Xây dựng hình tượng Huấn Cao, nhà văn đã làm nổi bật lên một nhân cách cao vời vợi. "Con ngưởi này vừa là một nghệ sỹ tài hoa vừalà một trang anh hùng dung liệt mặc dù chí lớn không thành nhưng bao giờ tư thế cũng hiên ngang bất khuất" (Trần Hữu Tá). Đọc truyện người ta dễ dàng nhận ra thái độ thán phục của Nguyễn Tuân trước trang anh hùng dũng liệt này. Nhân cách, khí phách của Huấn cao thể hiện trong cái vẻ lạnh lùng “thúc mạnh thành gông xuống đất đánh huỳnh một cái” mà không thèm để ý đến những lời dọa nạt của mấy tên lính áp tải, trong thái độ thản nhiên trước cái chết sắp cận kề, trong những lời nói thể hiện quan niệm sống coi thường bạc vàng, quyền thế của ông. Nhung nhân cách của Huấn Cao còn được thể hiện trong việc ông nhận ra sở thích cao quý của viên quản ngục. Chính vì thế, cảnh cho chữ phi thường mới diễn ra trong chốn ngục tù: “ Đêm hôm ấy, lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ còn vẳng có tiếng mõ trên trạm canh, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có, đã bày ra trong một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột phân gián”. Trong cảnh tượng lạ lùng này, viên quản ngục – người nắm quyền uy, thì “Khúm núm”, tay “run run” bưng chậu mực. Còn Huấn Cao, tên tử tù sắp bị chém đầu thì ung dung, đĩnh đạc biết bao! Không nghĩ gì đến cái chết đang đón đợi mình, Huấn Cao chỉ chú ý đến mùi thơm của chậu mực, màu tinh khiết của bức lụa trắng và cuối cùng là lời khuyên viên quản ngục hãy thay đổi chỗ ở để khỏi “Nhem nhuốc mất cái đời lương thiện”. Ở truyện ngắn này, quan niệm của Nguyễn Tuân thể hiện khá rõ: cái tài phải di cùng với cái thiên lương trong sáng. Chính sự kết hợp giữa cái tài, thiên lương và khí phách anh hùng đã làm nên nhân cách cao vợi của Huấn Cao.
3. Cái đẹp mang tính chất duy mỹ
Như trên đã nói, Vang bóng một thời là minh chứng sinh động cho quan điểm “Nghệ thuật vị nghệ thuật” của Nguyễn Tuân thời kì trước Cách mạng tháng Tám.
Là một nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp và cái thật trong đời, Nguyễn Tuân nhiều khi đã không chú ý đến tính chất xã hội của hiện thực. Ông mải mê ca ngợi những cái đẹp thuần túy, mang tính hình thức. Hai truyện ngắn Chém treo ngành và Ném bút chì là những ví dụ tiêu biểu cho việc ca ngợi, phản ánh cái đẹp một cái duy mỹ của ông.
Truyện Chém treo ngành kể về một tên đao phủ tên là Bát Lê. Bát Lê là người “có tài chém đầu người chỉ một nahst mà đầu vẫn dính vào cổ bằng lần da gáy” như quan Tổng đốc đã nhận xét về y. Cuộc chém đầu những kẻ phiến loạn được Bát Lê tập dượt bằng những buổi chém những thân cây chuối trên một góc thành. Tiếng hát của Bát Lê cùng với tiếng những thân chuối đổ trên mặt thành gây một cảm giác rờn rơn, chết choc. Nhà văn đã dừng lại khá lâu để miêu tả cảnh Bát Lê tập lối chém treo ngành trong vườn chuối: “Bát Lê tiến thêm ba bước đến ngang tầm cây chuối hàng đầu bên trái, Bát Lê thuận tay trái đà thanh quất, lại chém xuống đấy một nhát thứ hai. Một thân cây thứ hai gục xuống nữa như một thần hình người quỳ chịu tội. Thế rồi vừa hát, vừa chém bên trái, vừa chém bên phải, Bát Lê đã hát hết mười bốn câu và đánh gục mười bốn chân cây chuối… Bát Lê quay mình lại, ngắm các công trình phá hoại của mình. Thì ở mười bốn cây chuối chịu tội kia, thân trên bị chém vẫn còn dính vào phần gốc bởi một lần bẹ bị giập nát”. Buổi chém tử tù cũng được miêu tả với giọng văn hiện thực, có phần bàng quan, lạnh lùng như vậy: “Bát Lê bắt đầu hoa không thanh quất mấy vòng. Rồi y hát những câu tẩy oan với hồn con tội. Trong nhà rạp, các quan chỉ nghe thấy cái âm thanh lơ lớ rờn rợn. Quan Công Sứ chăm chú nhìn Bát Lê múa lượn giữa hai hàng tử tù và múa hát đến đâu thì những cái đầu tội nhân bị quỳ chẻ gục đến đấy. Những tia máu phun lên phì phì, vọt lên cao trên nền trời chiều. Trên áng cỏ hoen ố, không một chiếc thủ cấp nào rụng xuống”. Vào những lúc nhộn nhạo quá đông tử tù, việc chém đầu người sẽ được tiến hành theo một cách còn “tài tình” hơn và tất nhiên cũng rùng rợn hơn. Người ta sẽ “Chẻ đôi cây tre đực dài ra, cặp vào cổ từ tù xếp hàng và nối đuôi quỳ hướng về một chiều. Đại để cũng giống như là cái lối cắp gắp chả chim mà nướng ấy”.  Rồi đao phủ sẽ cầm gươm mà róc ngang như người ta “róc mắt mía”…
Trong truyện ngắn Ném bút chì, Nguyễn Tuân nói tới cái tài ném lưỡi mai chết người của Phó Kình, của Lý Văn trong một đảng cướp. Chỉ với “cây bút chì”– lưỡi mai thô sơ mà y (Phó Kình) đã dám “chấp cả một ấp người”. Tài ném lưỡi mai của hạng người này có thể nói đã được miêu tả như một thứ nghệ thuật: “Phó Kình cuộn mấy vòng dây thừng dài đến mấy sải vào cánh tay trái, bàn tay trái y nắm chắc cổ cán mai, bàn tay phải y giữ vững dốc nhọn mai… Bỗng sau một tiếng phập, thân trên cây chuối đã gúc xuống mặt đất, kêu đánh roạt.” Còn đây là những dòng miêu tả tài “ném bút chì” của Lý Văn: “Tiếng lưỡi mai ở tay Lý Văn phóng ra kêu đánh vút. Một tiếng gà oang oác. Cả bọn chạy ra luống khoai, giơ cao con gà gãy mất hai chân. Vết thương gọn gàng vừa đúng quãng đầu gối và gặp giò chưa lìa hẳn, vẫn còn sinh vào đùi bởi lần da hoen máu.” Lý Văn còn hứa hẹn với đồng bọn về một thứ “tài nghệ” mới: “ Để hôm nào rảnh anh sẽ dạy cho các chú tập đánh cái lối đòn bơi chèo bằng gỗ cau. Đánh đến đòn hỗn chiến thì đầu người cứ rụng như sung”.
Đọc những truyện ngắn loại này, nhiều người có cảm giác giọng văn của Nguyễn Tuân lạnh lùng, tàn nhẫn làm sao! Tả cảnh chém đầu người giữa pháp trường mà giọng văn cứ lạnh lùng, tình táo như không. Thực ra cần phải hiểu quan niệm của Nguyễn Tuân khi miêu tả hiện thực. Phải chắng, với quan niệm “Viết văn không khuynh hướng”, Nguyễn Tuân chỉ chú ý ngợi ca những cái đẹp mang tính hình thức chứ không mang tính tư tưởng ?  Sự phiến diện trong quan niệm về cái đẹp của Nguyễn Tuân ở giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám là một hạn chế lớn. Đọc Vang bóng một thời hay Tóc chị HoàiChiếc lư đồng mắt cua…, dễ thấy nhiều khi Nguyễn Tuân tách rời ra khỏi cái đẹp có ích, đề cao cái đẹp một cách thuần túy. Trong Tóc chị Hoài, Nguyên Tuân cũng đã từng tuyệt đối hóa cái đẹp của hình thức khi miêu tả mái tóc người con gái. Ngay cả trong Chùa đàn – tác phẩm được viết sau 1945, người ta vẫn thấy quan niệm nghệ thuật cũ của Nguyễn Tuân trước cách mạng. Theo nhà văn, cái đẹp trước hết phải gắn với cái tài. Với Nguyễn Tuân, đã tài thì đều đáng khâm phục, không nhất thiết phải xem cái tài đó có lợi hay không. Trong Chùa Đàn, nhà văn ca ngợi tiếng đàn oan nghiệt ma quái: “Người ta vừa đàn vừa khóc và người ta đàn đến mức hộc máu ra mà gục chết dưới gốc nhạc khí.” Nếu gạt bỏ đi yếu tố ma quái trong truyện này, người đọc vẫn thấy rõ sự thán phục của nhà văn trước tài đánh đàn của Bá Nhỡ và tiếng hát điêu luyện, ngọt ngào của cô Tơ.
Những năm sau này, với những tùy bút nổi tiếng như Sông Đà và Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi, thế giới quan của nhà văn  có nhiều thay đổi. Cái nhìn của nhà văn trở về nên tin yêu, đôn hậu, không có cái vẻ khinh bạc như trước kia. Tuy nhiên, có một điều không thể thay đổi trong cảm hứng thẩm mỹ của nhà văn. Nguyễn Tuân vẫn say sưa miêu tả, thể hiện cái tài của những con người bình thường giản dị mà không giấu diếm sự thán phục của mình đối với họ. Đọc Người lái đò sông Đà trong tập tùy bút Sông Đà mới thấy nhà văn đã dành bao nhiêu yêu mến và thán phục trước người lái đò trên sống Đà. Trong thiên tùy bút này, người lái đò hiện ra dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân vừa có cốt cách của một anh hùng lại vừa có phong thái của một nghệ sỹ tài hoa, tài tử. Như vậy, chính quan niệm về cái đẹp vừa có tính chất nhất quán vừa có sự biến đổi trong những tác phẩm sau Cách mạng tháng Tám như Người lái đò sông Đà đã tạo nên một phong cách lớn Nguyễn Tuân.
      Cái đẹp mang tính duy mỹ rõ ràng đã gây nhiều chú ý, thắc mắc ở người đọc khi đến với Vang bóng một thời. Nhưng ở đây dường như cũng chứa đựng ít nhiều mâu thuẫn. Đồng ý rằng nhà văn ít chú ý đến ý nghĩa xã hội của đời sống, chỉ quan tâm đến phương diện mỹ học của sự vật và con người những sẽ lý giải như thế nào trước một Nguyễn Tuân giàu cảm tình với cái “thiên lương” cao quý và một Nguyễn Tuân giàu tinh thần dân tộc? Chữ người tử tù lâu nay đã được coi là một truyện tiến bộ. Truyện chẳng những thể hiện thái độ luyến tiếc của nhà văn trước một nhã thú văn hóa cổ truyền đang dần lụi tàn – nghệ thuật thư pháp – mà còn nói lên rất nhiều khâm phục của tác giả đối với Huấn Cao, hình bóng của người anh hùng Cao Bá Quát. Ngay cả những truyện được coi là đậm chất duy mỹ như Chém treo ngành vẫn có thể khơi gợi nơi người đọc một sự căm thù sâu sắc đối với bè lũ thực dân và tay sai của chíng. Chẳng phải là Nguyễn Tuân đã thể hiện một cách kín đáo thái độ của mình qua đoạn văn miêu tả cơn lốc xoáy kỳ lạ giữa pháp trường làm hất tung chiếc mũ trên đều quan Công Sứ đó sao? Như vậy, với quan niệm cái đẹp mang tính duy mỹ nói trên, Nguyễn Tuân đã có nhiều khi tự mâu thuẫn với chính mình hay nói như nhà văn Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Tuân đã “tự lừa dối mình trong những ngày tháng tuyệt vọng”. Nguyễn Tuân phức tạp cũng chính là ở điểm này
 4. Nghệ thuật tả cảnh và một hệ thống ngôn từ độc đáo.
        Quan niệm về cái đẹp như trên đã quy định nghệ thuật tả cảnh và hệ thống ngôn từ trong Vang bóng một thời.
Có thế thấy rõ trong tác phẩm không hiện diện những cảnh tượng huyên náo, rực rỡ màu sắc. Cảnh vật được miêu tả trong tác phẩm không ít thì nhiều đều gợi về một thời xa vắng và như một nhà phê bình đã viết, nó kéo con người ta trở về với quá khứ.
Đọc truyện, dễ nhận thấy một gam màu nhạt và ảm đạm bao trùm khắp trong tập truyện. Nhà văn Vũ Ngọc Phan đã nhận xét: “Cái vang của thời đã qua, cái bóng của thời đã qua, mà ngày nay người ta tưởng còn văng vẳng, và thấp thoáng đó là tất cả cái thê lương nó khởi đầu những mẫu chuyện cổ thời”. Gam màu nhạt và ảm đạm này phù hợp một cách kỳ lạ với khung cảnh những buổi chiều u ám: “Mỗi buổi chiều mặt trời lặn, mất con chim không tổ mỏi cánh định tìm vào vườn chuối âm u này để ngủ. Những thân chuối cao vút và tàu lá chuối trống trải không đủ là nơi làm tổ, loài chim kêu mấy tiếng thưa thớt rồi lại bay qua ngọn thành. Vào tiết mưa dầm, những trận mưa ngâu đổ lên vườn chuối một khú nhạc suông nghe buồn thỉu buồn thiu”. Đến gần cuối truyện, không khí ảm đạm u ám ấy còn được pha thêm màu sắc dữ dội gây cảm giác bức bối, nặng nề báo hiệu chết chóc, đau buồn: “Trời chiều có một vẻ dữ dội. Mặt đất thời sáng hơn là nền trời. Nền trời vẫn những đám mây tím đỏ vẽ đủ mọi hình thù quái lạ. Những bức tranh mây chói màu thẫm hạ thấp thêm và đè nặng xuống pháp trường oi bức và sang gắt”. Chẳng cứ gì buổi chiều, ngay cả một buổi trưa hè cũng được tả với sự buồn vắng, im lìm: “Ánh nắng già dặn buổi trưa nung đối mặt cánh đồng dưới chân đồi, làm rung rinh lớn không khí bốc từ mặt đất và giống như vệt khói nhờ nhờ, vớn qua những màu xanh bong loáng của một dãy xóm làng cây cối im lìm” (Những chiếc ấm đất).
Truyện Báo oán có lẽ là truyện có nhiều nhất những đoạn văn tả cảnh ảm đạm, thê lương và thật đậm nét yếu tố ma quái như bản thân tên truyện. Sau đây là một ví dụ: “Mùa mưa dấm tháng chin chỉ là những giọt nước mắt triền mien than vãn của kỳ thất tịch còn sót lại mãi đến bây giờ. Xứ đồng chiêm Sơn Nam Hạ đã biến thành một vùng nước mất hẳn bờ, trên đó nhấp nhô những con đò đồng lí tí. Ngọn song đồng hỗn loạn vỗ tung bùn vào mép những con đường đất thó nhuyễn và những lũy tre già ướt át. Làng mạc vùng quê Nam Định nhoi lên khỏi làn nước trắng lạnh như những quần đảo hoang vu”. Ở một chỗ khác: “Nền trời phương Đông đáng lẽ phải hửng lên để đón lấy chiều dương. Thế mà ở đấy chỉ rặt một thứ mây đục đùn lên những hình vật có tang ma, những màu xanh đỏ rực rỡ và rờn rợn…”. Bên cạnh những đoạn văn tả cảnh tày còn có những đoạn tả người cũng vẫn với những “nét rầu rầu xanh xám” ấy: “Rồi cậu Chiêu lại vẫn không quên cái cảnh màn trời triền mien những kinh động ngờ sợ, ánh sáng tốt và ẩm ướt của rừng tị nạn, đổ xuống một cái đầu xanh đang ngậm chum túc mới vừa to mà đã nhuộm màu tang” (Ngôi mả cũ).
Ấn tượng nhất có lẽ là những đoạn văn tả cảnh gắn liền với những thú tiêu khiển thanh nhã. Cảnh vật ở đây trở nên thanh khiết, êm đềm đôi khi buồn bã đến kỳ lạ thể hiện một cách gián tiếp thái độ yêu mến, trên trọng và nuối tiếc của nhà văn. Đây là cảnh tượng trong một cuộc thả thơ: “Vầng trăng mười bốn lúc chênh chếch và đoài đã in một cúc bóng thẫm và dài lên mặt con sông trắng và lạnh như thỏi thiếc vừa nguội. Đấy là bóng chiếc nhà bè lợp lá gồi … tiếng ngâm một câu thơ thua cuộc ăn tiền … những tiếng đó đều âm hưởng trên làn nước lạnh, thanh âm nghe trong trẻo, du dương và thái bình như tiếng vang của một hội tao đàn nào” (Thả thơ). Còn đây là cảnh vật buổi sớm mai trong lành nhưng vẫn gây cảm giác u hoài: “Trời rạng dần. Một chút nắng đào lóng lánh trong đám cây đang rụng dần lá năm cũ, một chiếc lại một chiếc” (Chén trà trong sương sớm). Đánh thơ cũng gợi nhiều cảm tình nơi người đọc bởi một bầu không khí thơm ngát hương hoa huệ trắng, hương hoa tinh khiết bao bọc lấy những con bạc nhiều khi đến với cuộc đánh thơ chỉ vì niềm yêu mến văn chương: “Hoa huệ mềm mại cuộn cong đầu cánh trắng lại như những râu rồng và gặp tiết đêm, gặp sức nóng của nến cháy, của người thở mạnh, cáng hết sức nhả mùi hương. Không khí đều là huệ hết cả, có người rít mạnh mồi thuốc lào, đã lầm rằng thuốc của mình là ướp ủ bằng hoa huệ” (Đánh thơ). Trong truyện Ngôi mả cũ, hình ảnh giàn bầu nậm với những “trái bầu nậm còn tương dưới lỗ giàn là một cái bình rượu tạc bằng khối ngọc bích đều sắc, nhẵn và bong” được miêu tả thật ấn tượng nhờ vào những lien tưởng phong phú và tinh tế của nhà văn: “Cậu Chiêu đang hấp háy mắt ngửng đầu ngắm những quả bầu nậm buông thong xuống ngang mặt. Cái áo vải trắng cậu Chiêu đã biến thành một áo lụa màu xanh của người công tử phong lưu đa tình. Đấy là cái màu dịu mắt của chất ngọc bích, đấy là cái thứ áo xanh của ông quan Tư mã đất Giang Châu dung lau nước mắt khi thương đến một người con hát giữa một khoang thuyền trống trải trôi trong đám lau sậy ven sông. Hoặc vì đó là màu xanh của những cánh đồng lúa non ngút ngàn của những xứ không bao giờ có nạn binh lửa”…
Lại có những cảnh nửa thực nửa ảo gây nên một cảm giác siêu thoát, đượm màu Phật giáo: “Bọn người xin nước vái chào nhà sư. Trên con đường đất cát khô, nước tròng trành theo bước chân mau của tên lão bộc đánh rỏ xuống mặt đường những hình ngôi sao ẩm ướt và thẫm màu. Những hình ngôi sao ẩm ướt nối nhau trên một quãng đường dài ngoằn ngoèo như lối đi của loài rắn. Ví buổi trưa hè này là một đêm có bóng trăng dài lạnh lung và ví cổng chà Đồi Mai là một cửa non đào thì những giọt sao kia có đủ cái thi vị một cuộc  đánh dấu con đường về của khách tục trở lại trần sau khi chia tay cùng chúa động”.
Có thể nói cảnh và người trong tập truyện đều là cảnh và người của dĩ vãng - thứ dĩ vãng đã một thời vang bóng. Với cách miêu tả này, tác phẩm tạo nên một không khí buồn mà thanh sạch khác hẳn với những xô bồ trong cuộc sống hiện tại…
Bây giờ, ta hạy nói tới hệ thống ngôn từ độc đáo của tác phẩm. Bài viết này không có tham vọng bàn tới những vấn đề lớn trong phong cách nghệ thuật của “Thầy bút Nguyễn Tuân” mà chỉ muốn đề cập đến nét độc đáo trong ngôn từ mà nhà văn sử dụng ở tập truyện đặc sắc này.
Trước hết phải thấy rằng, nhà văn đã sử dụng hệ thống từ cổ, từ Hán Việt một cách đắc địa. Những từ cổ này được kết hợp hài hòa, chặt chẽ với những cảnh, những người trong quá khứ, tạo nên một hiệu quả đặc biệt. Người ta có cảm giác như sống với quá khứ, như đang trò truyện với những nhân vật trong trang sách. Giáo sư Hoàng Như Mai đã nhận xét: “Mở cuốn Vang bóng một thời, người ta tưởng như mở hai cánh cửa bước vào một nhà bào tàng văn hóa dân tộc, nơi đó trưng bày những hiện vật của một thời xưa”. Ấn tượng về sự xưa cũ, cổ kính này một phần được tạo ra bởi hệ thống từ cổ kết hợp với những địa danh, tên gọi, cách nói, cách xưng hô mang dấu ấn của một thời xuất hiện dày đặc trong tác phẩm. Những cái tên: Chùa Đồi Mai, xứ Đồng Côn, làng quan Công Sứ, khoa thi Mậu Ngọ, nhà nước bảo hộ, viên giám trảm, lính cơ, cụ nghè … giờ đây đã trở thành xa lạ, thậm chí gây thắc mắc đối với người đọc đương thời nhưng lại giúp chúng ta rất nhiều trong hành trình trở về quá khứ. Có thể kể ra rất nhiều từ cổ, cách nói, cách xưng hô … như đã nói ở trên: “Thụ một ít lộc Phật”, ít nhời, chén tống chén quân, ấm quần tử, ấm Thế Đức màu gan gà, ấm đồng cò bay, kim hỏa …(Những chiếc ấm đất); người bạn đồng song, thả thơ, cái níp sách sơn son … (Thả thơ); phiến trát, Sơn Hưng Tuyên đốc bộ đường, thầy thơ lại, ngục tốt, án thư, bộ từ bình, bức trung đường, đồng tiền kẽm, lạc khoản, thoi mực, bái lĩnh … (Chữ người tử tù); điệu cổ phong, ngâm gói hạc (Chén trà trong sương sớm); trường thi, lọng vàng, mùi nghi vệ, quan chánh chủ khảo, kinh truyện, “Báo oán giả, tiên nhập, báo oán giả, thứ nhập …” (Báo oán). Việc sử dụng hệ thống ngôn từ độc đáo như trên vừa thể hiện dụng ý của nhà văn lại vừa nói lên một cách đầy đủ nhất sự hiểu biết sâu rộng, cặn kẽ của nhà văn về nhiều phương diện như lịch sử, văn hóa và xã hội.
Tóm lại, tìm hiểu quan niệm về cái đẹp của Nguyễn Tuân trong Vang bóng một thời là một công việc vừa thú vị vừa đòi hỏi nhiều công phu vì nó trực tiếp liên quan đến một hiện tượng văn học vô cùng độc đáo và phức tạp của văn học nước nhà.

 (Sưu tầm)

Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2015

TIN TÔI ĐI
Thời gian không thể làm bạn yêu một người bạn ghét nhưng nó có thể làm bạn quên một người bạn đã yêu.

 


Nỗi đau không làm cho bạn chết nhưng nếu chọn cách chung tình với nỗi đau thì cuộc sống mà bạn đang sống thì đã chết tự bao giờ.

Không ai trên đời có đủ quyền năng khiến cho bạn đau mà bởi bạn đã trao đi một yêu thương đủ lớn cho một người không biết trân trọng nên thứ làm bạn đau không phải là lòng họ mà chính là yêu thương đang tan chảy trong bạn.


Thử xem, muốn quên một người, hãy nhớ họ nhiều lên. Nhớ lúc ăn. lúc ngủ, lúc làm việc, mang cả nỗi nhớ vào phòng tắm hay nhà vệ sinh, rãnh cũng nhớ mà bận cũng nhớ rồi sẽ đến một thời điểm bạn không ngờ đến, bạn sẽ giật mình, ơ hay, nhớ đủ rồi tự khắc sẽ quên đi.


Trên đời, không tồn tại thứ yêu thương mặc định kể cả là với cha mẹ. Bạn cứ thử vài tháng hay cả năm không thăm hỏi họ, không gọi điện, không nhắn tin, không để ý đến sức khỏe của họ để rồi sau ngần đó thời gian về nhà, bạn thử nhìn vào mắt họ xem thứ đầu tiên bạn thấy là yêu thương hay là sự thất vọng.


Cuộc sống là một vở kịch nhưng người hạnh phúc là người khi tấm màn kia tạm thời khép lại, đèn sân khấu tắt đi thì họ luôn có một người ở bên, chẳng làm gì, chỉ nắm tay tiếp thêm cho họ chút mạnh mẽ, lạc quan và niềm tin vào những điều ấm áp.


Tôi luôn tin vào câu "Đừng bao giờ nhắm mắt bỏ qua người yêu thương bạn, quan tâm và nhớ bạn hàng đêm bởi vì sẽ đến một ngày, bạn thức giấc và nhận ra mình đã đánh mất ánh trăng vì mãi thơ thẩn đếm những vì sao". Giữa người với người luôn tồn tại một khoảng cách mà người ta gọi là toan tính, là bận rộn, là mưu sinh nhưng khi có ai đó dành cho bạn khoảng trống giữa những bộn bề ấy, hãy trân trọng.

Không có cách sống đúng hay sai, chỉ có cách sống lạc quan hay tiêu cực, yêu thương hay thù ghét, tin tưởng hay bỏ mặc. Đừng bao giờ đổ lỗi cho hoàn cảnh bởi nghịch cảnh là những thứ mà ông trời sắp đặt sẵn để thử thách bạn, đổ lỗi cho nó tức là bạn đã thua rồi.

Không có người xấu từ bản chất, chỉ là phần tốt của họ chưa có người đánh thức mà thôi.

Và tin tôi đi, cuộc sống này luôn có phép màu, luôn có điều kì diệu và luôn có những yêu thương chân thành chờ đón bạn. Đừng vì chút khó khăn mà đã vội phán xét cuộc đời này toàn phủ mùi u ám.Đừng vì chút chia ly đã vội đạp đổ lòng tin vào con người.Và tin tôi đi, nhìn đời bằng ánh mắt lạc quan, tiếp cận đời qua lăng kính màu hồng bạn sẽ không để vụt mất những yêu thương, không sống trong hối tiếc, không tặc lưỡi bất lực trước thị phi và cuộc sống với sự lạc quan, đẹp hơn nhiều khi ta dành nó cho những điều tiêu cực.
Tin tôi đi!

                                                                                             Sưu tầm
 

CHIA TAY RỒI, ĐỪNG ĐỔ LỖI CHO DUYÊN PHẬN EM ƠI!

CHIA TAY RỒI, ĐỪNG ĐỔ LỖI CHO
DUYÊN PHẬN EM ƠI!
Em à, đừng đổ lỗi cho duyên phận vì thực ra đó chỉ là cái cớ của người ta đi, khi yêu thương nhạt nhòa rồi thì người ta sẽ viện ra đủ lí do để buông bỏ dù có làm tổn thương đối phương đi chăng nữa.
Người ta nói rằng gặp được nhau giữa thế giới bảy tỷ người này là một cái duyên nhưng đến được với nhau thì cần cái phận. Phải rồi, người ta luôn vịn vào hai chữ duyên phận để cân đong đo đếm độ dài và độ sâu của tình yêu. 

Và đáng buồn là số người tin vào duyên phận lại chiếm số đông, trong đó có cô gái nhỏ của tôi.  Đã cùng nhau đi một đoạn đường dài rồi mà bỗng một ngày một trong hai người nói chúng ta có duyên nhưng không phận nên dừng lại ở đây nhé. Ôi, nghe mới đau lòng làm sao!

Bản thân tôi luôn tin rằng trên đời này tồn tại chữ duyên, phải có duyên thì hai người xa lạ mới có thể gặp rồi yêu nhau. Nhưng chữ phận thì tuyệt đối không. Ông Tơ bà Nguyệt se duyên xong xuôi rồi việc còn lại là do người trong cuộc tự dựng xây và định đoạt. Cứ đi cùng nhau đến khi yêu thương nhạt nhòa, hạnh phúc "hết đát" thì lại chép miệng “âu cũng là duyên phận”. Đã hết yêu nhau rồi hà cớ gì phải đổ cho duyên mỏng phận bạc, thế chẳng phải đáng cười lắm hay sao?

Khi yêu nào có ai biết trước được ngày sau ra sao nên nhiều người cứ nói với nhau rằng thôi cứ để tự nhiên đi, cứ yêu đi tới đâu thì tới, duyên phận sắp đặt sẵn hết rồi. Buồn cười chưa, yêu thì phải cố gắng mà vun đắp chứ sao lại tới đâu thì tới, thế chẳng phải đang lãng phí cái duyên trời cho hay sao? Cứ hời hợt với tình yêu đi đến khi nó chết yểu rồi lại trách than duyên phận. Có không giữ đến khi mất rồi than trách nọ kia nào có thay đổi được gì đâu em. 


Thực ra trong tình yêu có vô vàn lí do để chia tay. Ngoài chuyện hời hợt với tình yêu thì còn có thể không hợp nhau, không hiểu nhau, có thể do thay lòng đổi dạ, có thể do nhiều phía tác động. Có khi em và người ấy không thể đi cùng nhau trên một con đường nữa thay vì tự vấn bản thân em lại đổ lỗi cho duyên phận. Nào có ai biết duyên phận nó hình hài ra sao đâu nên cứ trách thế cho nhẹ lòng và chắc cũng bớt sầu khổ hơn, phải không cô gái?

Và sau mỗi một chuyện tình kết thúc, vì chữ duyên mà em đến bên một người khác rồi lại nói không có phận mà dứt tình với nhau. Cứ như thế xoay vòng, yêu – chia tay – yêu. Cuộc đời này lắm nỗi lâm ly cũng chỉ vì thế. Một câu nói nhẹ như không “chúng ta có duyên không phận” để rồi ám ảnh và làm đau người ở lại đến cả trăm ngàn lần.

Em à, đừng đổ lỗi cho duyên phận vì thực ra đó chỉ là cái cớ của người ta đi, khi yêu thương nhạt nhòa rồi thì người ta sẽ viện ra đủ lí do để buông bỏ dù có làm tổn thương đối phương đi chăng nữa. 

Vậy đấy. Duyên phận là gì mà lại khiến em dựa dẫm đến thế? 

Có những người đi cùng nhau tới cuối con đường thì nói chúng ta có duyên phận, thậm chí là duyên nợ nên đã buộc cả hai vào với nhau, số còn lại nói có duyên mà không có phận thì sao mà đi tiếp được.

Cô gái của tôi ơi, xin nhớ cho rằng tiếp tục đồng hành cùng nhau hay không cũng là do mình mà ra, chẳng có chữ “phận” nào quyết định giùm em cả đâu. Vì thế nếu đã yêu thì yêu hết mình đi. Và nếu yêu thương đủ sâu, đủ dài thì dù duyên phận có chặn lối đi chăng nữa chắc chắn em vẫn sẽ tìm được lối rẽ cho tình yêu của mình. Tin tôi đi, hạnh phúc chỉ đến với những người biết cố gắng và trân trọng tình yêu mà thôi. 

Theo Aren Dương / Trí Thức Trẻ

  

CẢM ƠN EM, VÌ ĐÃ CAN ĐẢM YÊU ANH

CẢM ƠN EM, VÌ ĐÃ CAN ĐẢM YÊU ANH
Em biết không, thế gian bảy tỉ người này, chẳng có ai là hoàn hảo, cũng chẳng có tình yêu nào là vẹn tròn. Thứ đủ đầy, hạnh phúc nhất, đó là cách chúng ta bên nhau.
Người ta nói, để yêu nhau là do duyên, nhưng đến được với nhau lại là do nợ. Có lẽ, chúng mình “nợ” nhau nhiều quá, em nhỉ?

Cảm ơn em, vì đã xuất hiện trong cuộc sống của anh như một thứ ánh sáng rực rỡ. Cuộc đời anh vốn dĩ là một đường thẳng, không nếp gấp, không ngoằn ngoèo, đơn giản nhàm chán đến nỗi buồn tênh trong những đêm dài cô quạnh, nhưng vì có em mà bỗng trở nên sinh động, ấm áp đến kì lạ. Ánh mắt của em, nụ cười của em, cử chỉ của em, tất thảy đều khẽ chạm vào tim anh.

Cảm ơn em, vì đã thấu hiểu và sẵn sàng gắn bó với con người anh. Anh vô tâm, anh lạnh lùng, anh cao ngạo, anh có quá nhiều những đặc điểm mà chẳng ai có thể yêu thương nổi. Hơn hết, anh chỉ là một gã trai trẻ tuổi say mê lí tưởng, với những chữ “không” đè nặng trên vai: không tiền tài, không chỗ dựa, không quyền lực. Nhưng, em vẫn gạt bỏ hết tất cả mà sẵn sàng ở bên anh, quan tâm anh, yêu thương anh, một cách vô điều kiện.



Cảm ơn em, vì đã cười thật tươi mà chấp nhận quá khứ của anh. Rằng, anh đã từng yêu thương người khác, đã từng hết lòng thật tâm với thứ tình cảm dành cho người khác, cũng từng khổ đau thương tổn vì người khác. Có mấy ai ngốc nghếch như em chứ? Em không ghen, cũng chẳng hờn dỗi, mà chỉ kiên định nhìn anh: “Quá khứ là chuyện đã qua. Quá khứ của anh không có em. Nhưng hiện tại và tương lai thì phải có em trong đó, thế là được rồi!”.

Cảm ơn em, vì đã cho anh hiểu thế nào là hạnh phúc. Thứ hạnh phúc giản đơn, bình dị, an yên mà bất cứ người con trai nào cũng khao khát. Chúng mình cũng như bao cặp đôi khác, cũng cãi vã, cũng tranh luận, cũng chiến tranh,.. nhưng quan trọng hơn cả, là sau những lần ấy, mình đều thêm thấu hiểu và yêu nhau nhiều hơn. Hạnh phúc đâu khó khăn gì? Chỉ là hai trái tim cùng chung nhịp đập, luôn hướng về nhau và sẵn sàng bỏ qua, thứ tha cho nhau, phải không em?

Cảm ơn em, vì đã để anh ghi nhớ trách nhiệm của mình. Chẳng để em phải đòi hỏi, hay nhắc nhở, mà anh vẫn “tự giác” nhớ đến em, nhớ đến “nghĩa vụ” của mình. Đó là yêu em, và yêu em nhiều hơn thế. Là khi anh muốn dùng vòng tay mình để bảo vệ em, bao bọc em, là khi anh tự thầm nhủ rằng dù trời có sập xuống anh cũng sẽ vì em mà gánh vác. Là khi mệt mỏi muốn ngã gục lại nhớ đến em mà đứng dậy, là khi cố gắng hết sức vì em, và vì tương lai chúng ta.

Em biết không, thế gian bảy tỉ người này, chẳng có ai là hoàn hảo, cũng chẳng có tình yêu nào là vẹn tròn. Thứ đủ đầy, hạnh phúc nhất, đó là cách chúng ta bên nhau.

Cảm ơn em, vì đã can đảm yêu anh.

Theo Hạ Anh / Trí Thức Trẻ

  

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2015

CHUYỆN TÌNH CỎ VÀ GIÓ

CHUYỆN TÌNH CỎ VÀ GIÓ
Cứ là gió như tên anh mang, thổi qua đời em thoảng chút quan tâm, thoảng chút hạnh phúc để rồi khi gió đi qua chút tiếc nuối trong em sẽ bị thời gian xóa nhòa dần… Gió của em cứ ngô nghê như đứa trẻ thích chọc tức người khác, làm e dỗi và giận hờn vu vơ. Gió của em nhiều lúc đáng yêu làm em cười và làm em hạnh phúc, gió của em đôi khi rất nhẹ, hiền lành và ấm áp biết bao nhiêu. 


Cứ là gió như cách anh bên em, như rất gần mà lại quá xa xôi, ru mát hồn em một chút thôi rồi lại rong đuổi khắp chốn bao nơi khác những lúc thế cảm giác hụt hẫng trong em lại trào dâng.. Gió của em ngố ngố ngốc ngốc, lắm lúc nhạy cảm hết mức cứ gom hết những ý nghĩ không đâu. Như những ngày xưa êm đềm, anh đến và đi như gió như cái tên anh mang… 

Gió của em khi ấm áp khi lạnh lùng thổi vào đời em những rung động, những cảm xúc đầu đời non nớt và ngô nghê. Em cứ mãi là cô bé ngốc nghếch không hiểu chính bản thân mình đang làm gì đang nghĩ gì bất chợt chứ không biết lo nghĩ tính toán và mưu toan… 

Em lao đao khi gió đi, khẽ run rẩy khi gió đến, mãi mơ hồ với mớ cảm xúc chẳng đâu vào đâu.. thương rồi để đó, bởi em sợ cảm giác yêu đương, em sợ đằng sau yêu đương phải vượt thử thách sợ chia tay…hãy cứ cho e lười yêu cũng được bởi e còn trẻ con bởi em còn chưa biết định nghĩa yêu đương như thế nào? Gió cứ mãi là gió, em sẽ chỉ là cỏ, cỏ nhỏ bé dẫu tản rộng đến đâu cũng chẳng thể nào đuổi kịp gió...Có lúc gió ngọt ngào mơn man cỏ nhẹ nhàng nhưng chẳng được lâu đâu bởi gió mãi rong đuổi nơi nao quanh quẩn, gió chẳng thể hiểu hết cỏ, gió thuộc về những thứ bao la và đẹp như nắng như hoa như cầu vồng và mây, một thế giới khác hoàn toàn xa lạ với loài cỏ thôn dã, hoang dại. Cỏ cố gắng mạnh mẽ chống chọi với bao khắc nghiệt của cuộc sống nhưng mãi yếu đuối và mềm lòng trước gió. Cỏ ngây ngô cũng muốn nũng nịu, muốn được gió quan tâm chiều chuộng mỗi ngày,rồi gió vô tư để cỏ bơ vơ …. 

Gió muốn rời xa cỏ, gió chẳng thể đủ kiên nhẫn chờ đợi cỏ như gió đã từng hứa, dẫu thời gian là mong manh song những thứ được gọi là kỷ niệm thì mãi chẳng thể nào phai mờ. cỏ nhớ gió, nơi đâu trong cuộc sống của cỏ cũng có dấu ấn của gió mà chẳng biết rằng gió có thế, có nhớ cỏ không? Thiếu gió cỏ sẽ lặng im, sẽ không còn được than thở kể lể những chuyện không đâu ,sẽ không còn có ai chịu nghe cỏ lảm nhảm những đêm dài ác mộng giật mình mất ngủ.

Trước khi gió đến cỏ vẫn yên lặng như thế, gượng bình yên nén niềm riêng vào lòng, nhưng rồi gió đến bất ngờ. Gió dạy cỏ biết đau thì kêu,biết buồn thì khóc. Gió với cỏ có ý nghĩa quan trọng nhiều hơn những gì gió nghĩ, gió đặc biệt và quá xa vời…. Để gió ra đi cỏ chẳng thể níu kéo, cũng chẳng đủ tư cách, đủ dịu dàng cần thiết để níu gió ở lại. gió sẽ mãi là gió không đi hiện tại thì tương lai hay đến lúc nào đó gió cũng sẽ bay đi như điều cỏ linh cảm. Cỏ chỉ mong rằng nghĩ về cỏ về quãng thời gian bên cỏ dẫu cũng có lúc giận hờn vu vơ nhưng gió sẽ cảm thấy hạnh phúc, vui vẻ và thoải mái nhất. Gió hãy cứ bay đi đến những bến mới khám phá hết thảy cuộc sống tự do lạc thú bên ngoài, được yêu và yêu say đắm …

Cỏ non nớt mãi chỉ là cỏ ngây ngô thế thôi sẽ chẳng bao giờ nói yêu ai nếu lí tính không cho phép. Cỏ ưa giận dỗi nhưng lại chẳng giận được ai đó lâu đâu, chuyện của gió và cỏ chưa hề có bắt đầu nên sẽ chẳng thể kết thúc được,nếu một ngày nào đó gió trở lại mơn man đồng cỏ xanh mát biết đâu đấy cỏ sẽ lại yếu đuối và gục ngã trong vòng tay ấm áp của gió. Bởi gió sẽ chẳng bao giờ đủ kiên nhẫn đợi chờ cỏ trưởng thành và sẵn sàng chấp nhận một mối quan hệ rõ ràng như gió muốn vậy gió hãy cứ đi để thay đổi, để không phải chờ đợi trong vô vọng… … bài hát gió cất hãy còn đó,cỏ vẫn lắng nghe dẫu gió nói mà chẳng thể làm được. 

Tạm biệt gió của ngày hôm qua, cảm ơn vì tất cả những thứ mà gió đã mang lại trong đời cỏ, kể cả những nhớ thương,cỏ sẽ cố gắng để không bị nó dày vò. hẹn một ngày gần nhất gió trở lại, sẽ là một ngày tươi đẹp và hạnh phúc, gió sẽ mãi ôm cỏ để hát ca..!!!
Sưu tầm



  

Sự phát triển văn học

SỰ PHÁT  TRIỂN VĂN HỌC
Sự phát triển văn học twg thế kỷ XVIII đến quãng giữa thế kỷ XIX có những đặc điểm như sau:
Nội dung văn học mang tính hiện thực và chủ nghĩa nhân đạo rõ rệt. Nói chung văn học thế kỷ XVIII, XIX dù là thơ truyện dân gian, dù là văn học do người trong phong kiến viết, vẫn không thoát ý thức hệ chính thống của thời đại. Cho nên trong tất cả mọi truyện, cách giải quyết nút truyện vẫn nằm trong khuôn khổ đạo đức và lễ giáo phong kiến. Hầu hết tác phẩm có vạch những tội ác của phong kiến, nhưng không hề đề lên cho người ta thấy tính phổ biến của nó. Tất cả đều không vạch ra được quan hệ bóc lột giữa phong kiến và nông dân, nó là mới quan hệ mấu chốt trong vấn đề . Không tác phẩm nào gợi ra được một biện pháp giải phóng tích cực đối với những người bị áp bức, đối với phụ nữ. Nếu cứ lấy giải pháp của các truyện nôm mà xét thì sẽ thấy chung qui, các tác gia vãn muốn duy trì chế độ phong kiến. Cái đó có phần tác hại của nó.
Nhưng một tác phẩm văn học không phải là một quyển sách lý luận, ch nên giải pháp của tác giả đúng hay sai, tích cực hay tiêu cực không làm nên, cũng không làm mất hẳn giá trị của tác phẩm. Cái quyết định là sức tác động toát ra từ tác phẩm do mức độ phản ánh hiện thực xã hội bằng nghệ thuật-có khi ngoài ý định  của các tác giả - và do những hình ảnh vươn lên tương lai theo ước vọng của con người.
Nói chung văn học thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX tố cáo xã hội, phê phán hiện thực  và thể hiện sự vùng vẫy vươn mình để tự giải phóng của cá nhan con người, với các yêu cầu chính đáng của nó, Nền văn  học ấy phản ánh một cách khá trung thành cái xã hội rối loạn, ngột ngạt, thối tha, trong ấy bọn người có thế lực chuyên đi áp bức kẻ yếu và vân mạng con người , nhất là phụ nữ, bị coi như con sâu, cái kiến. Giúp vào việc áp bức ấy về mặt tinh thần, có cả một hệ đạo dức lễ giáo trói buộc chặt chẽ cá nhân vào gia tộc , vào các thành kiến gắn liền với chế độ. Qua văn học, người ta còn thấy một thế lực mới đã tạo ra bọn lưu manh lúc nhúc. Thế lực ấy đang vươn lên hàng đầu, và đã bát đầu lũng đoạn đến cả quyền uyphong kiến, lâu nay độc tôn. Đó là đồng tiền, với quyền năng ghê gớm của nó trong kinh tế hàng hóa.
Đứng về ý thức tác giả mà xét thì nói chung các tác phẩm của nhà văn bình dân- chiếm đa số các tác phẩm khuyết danh – như Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa…cống áp bức rõ ràng và dứt khoát hơn, nhưng tác thuyết phục và giáo dục của các tác phẩm như Kiều, Chinh phụ ngâm vẫn hơn, vì tác động nghệ thuật của nó hơn hẳn.
Chinh phụ ngâm nói lên nỗi đau khổ của người vợ có chồng đi đánh giặc xa và như thế là mặc nhiên lên án chiến tranh. Cung oán là tiếng kêu u uất của người phụ nữ bị tiến vào cung đê làm món đồ chơi một thoáng cho vua chúa, sau đó phải sống âm thầm, tủi nhục , phôi pha cuộc đời son trẻ trong cung cấm thâm u. Truyện Kiều là một bức tranh hiện thực rộng lớn, trong đó hiện lên cảnh quan lại tham tàn, sai nha  đục khoét, nạn bôn người bán thịt phổ biến, tài sắc là món hàng, đồng tiền chi phối lương tâm, bọn quý tộc lộng quyền , công khai cướp, đốt, đày đọa người lương thiện, quan đại thần giáo giở…Thơ Hồ Xuân  Hương mỉa mai chế nhạo giai cấp phong kiến, qua những đại biểu đủ các tầng lớp của nó: vua chúa, quan lại, tướng tá, sư sãi, thầy bà. Hoàng Lê nhất thống chí do những cố thần triều Lê Trịnh viết, xót xa và cung kính khi nói đến vua chúa cũ của mình, nhưng khách quan trong khi ghi chép sự việc , đã tái hiện sự ương hèn, bất lực , thối nát  và tính cách phản động của bọn vua chúa và quý tộc thời Lê mạt v.v…Tần cung nữ oán Bái công của Đặng Trần Thường tố cáo tâm địa thâm hiểm vong ân của vua tôi nhà Nguyễn. Cao Bá Quát trong thơ chữ Hán đã nói ra sự thiển cận của Tự Đức và triều đình y. Cao Bá Nhạ yếu đuối,  tiêu cực, chỉ biết trình bày thân thế để cầu xin “ơn trên” thương xót, nhưng lật ngược bài Tự tình khúc, chúng ta thấy đó là một bản cáo trạng dài đối với pháp chế triều Nguyễn và tâm địa ti tiểu, thù hằn, độc ác của vua tôi nhà chúng.
Sự phê phán ở các truyện nôm khuyêt danh càng rõ rệt hơn Nhân vật trưởng giả trong Tống Trân Cúc Hoa là đại diện của bọn địa chủ cường hào tham lam tráo trở, dùng con gái mình như một món hàng để đổi tiền, một món lễ để cầu thân vói gia đình có quyền thế. Trang Vương (Phạm Tải ngọc Hoa) là hình ảnh những tên vua – nói chung là những tên chúa đất – dâm dục, tàn bạo, trâng tráo, giết chồng để cướp vợ người ta. Trong xa hội truyện Phạm Tải Ngọc Hoa, chúng ta, chúng ta thấy vua dâm. Quan nịnh, vua ấy quan ấy tụm đầu bàn bạc mưu kế để thỏa mãn những ý đồ dâm dục của của bậc gọi là chí tôn. Trong Nhị độ mai, quyền thần hoành hành cùng cực, nhà vua gà mờ chẳng biết gì đến việc triều đình, vệc nhà nước. Những sự việc tiểu thuyết, những nhân vật hư cấu ấy có lẽ cũng không xa lắm những sự việc người thực lúc bấy giờ, những Trịnh Sâm, Đặng mậu Lân, những vua Lê bù nhìn. Minh Mạng chuyên chế…
Văn học thế kỷ XVIII, XIX là một nền văn học rất giàu tính nhân đạo. Nó phản ứng với trật tự và lễ giáo phong kiến. Hơn thế, cảm thông vói nỗi khổ của người yếu hèn, người bị áp bức, bị sa cơ thất thế, nó đánh thức lòng trắc ẩn ở mỗi chúng ta. Nó bênh vực quyền sống của con người. Ở trong xã hội phong kiến, sinh mệnh bị coi như cỏ rác, tình cảm riêng tư bị vùi dập hàng ngày, lễ giáo là những điều luật sắt đối với kẻ dưới mà , mà vua, cha, chồng là người bảo vệ khắt khe. Thơ truyện quốc âm bênh vực con em chống lại những điều luật ấy, bảo vệ con người , tình cảm con người, Nó muốn giải phóng tình cảm cá nhân. Phan sinh Kiều Liên (Phan Trần), Lương sinh, Dao Tiên (Hoa Tiên)… sống vì mình, vì tình yêu  và hạnh phúc mà mình tự chọn chứ không vì lễ nghĩa phong kiến. Kiều (Truyện Kiều) hăm hở vượt tường đi tìm hạnh phúc lứa đôi theo sở nguyện của mình. Lăn lóc trên hí trường xã hội “ thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”, “ kề lưng hùm sói, gửi thân tôi đòi”, Kều vẫn nhiều phen cố tìm một chỗ bám chân để gượng đứng lên thực hiện quyền sống, quyền làm một người bình thường, lương thiện của mình.
Các truyện thơ đứng về phía cá nhân chống mọi thế lực đen tối của một chế độ lạc hậu , hẹp hòi, bảo thủ, tàn nhẫn. Đặc biệt nó cảm thông với phụ nữ, thừa nhận địa vị và quyền lợi chính đáng của phụ nữ. Trong truyện nôm, dù là của nhà văn quần chúng hay nhà văn quý tộc, ngay đến trong các vở tuồng dụng tâm đề cao trung, hiếu , tiết, nghĩa, vị trí và vai trò của phụ nữ cũng tốt đẹp và quan trọng howntrong thực tế phổ biến của các gia đình phong kiến nhiều.
Rất ít tác phẩm trong ấy phu nữ giữ vai trò thụ động, như Cung oán, Sơ kính tân trang. Kiều đã tỏ ra nhiều lúc chủ động, lại thông minh quyết đoán gấp bội lần những anh chàng Vương Quan, Thúc Sinh, Mã Giám Sinh, những người mà sự có mặt trong câu chuyện không làm cho chuyện mảy may xê dịch. Phương Hoa (truyện Phương Hoa), Phi Nga ( Nữ tú tài), Cúc Hoa (Tống Trân Cúc Hoa), Ngọc Hoa (Pham Tải, Ngọc Hoa) cũng thông minh và chủ động như thế. Trong nhiều vở tuồng thời ấy như Tam nữ đồ vương, Đào Phi Phụng, Ngũ hổ Bình Tây, phụ nữ xông xáo, dũng cảm một cách lạ thường và đã đóng những vai trò oanh liệt trong sự nghiệp dụng nước, giữ nước, trừ gian, đồ vương đoạt bá. Trong Nhị độ mai, Lục Vân Tiên, Thạch Sanh, Tống Trân Cúc Hoa, Hoàng Trừu, nhân vật phụ nữ chính đã thu phục lòng trìu mến của ta. Đó là chưa kể những nhân vật tầng lớp dưới, những Hương,những Nguyệt, những Mã Kiều, chưa kể nữ nhân vật trong truyện nôm khuyết danh, chưa kể khẩu khí của những “chị dạy làm thơ”, “mời trầu”…trong thơ Hồ Xuân Hương.
Phải chăng những nhân vật lịch sử thời ấy, Lê Ngọc Hân, Phan Thị Thuấn, vợ ba Cai Vàng, đã làm cho các tác gia có cơ sở để hư cấu mạnh dạn những nữ nhân vật tiểu thuyết của mình? Điều chắc chắn là nó thể hiện một ý thức công bằng nhân đạo đối với phụ nữ và thừa nhận vai trò tối quan trọng của họ trong xã hội, trong gia đình, ý thức ấy vốn vẫn có trong quần chúng sinh sống bằng nông nghiệp, tiểu sản xuất hàng hóa, tiểu thương mãi, ở đấy tác dụng thực tế của phụ nữ không kém nam giới tí nào.
Trong quá khứ, không lúc nào thơ văn ta biểu hiện  lòng thương người bằng ở thời kỳ này. Tìm trong truyện nôm nào cũng thấy điều đó. Nhưng trong truyện nôm, lòng thương xót đối với những con người cùng thời đại thể hiện gián tiếp trên những nhân vật hư cấu, nhiều khi là nhân vật Trung Quốc chuyển sang. Đến như bài Văn Chiêu hồn củ nguyễn Du và rất nhiều bài thơ chữ Hán của Ngô Thế Lân, Phạm Nguyễn Du, Nguyễn Du, Phạm Quý Thích, chúng ta thấy rõ ràng sự đau xót của các tác giả trước cảnh đau khổ của con người xương thịt đang sống và chết, lắm khi sống dở chết dở trước con mắt mình. Ngô Thế Lân, Phạm Nguyễn Du thương cảm về cảnh đói lạnh của nhân dân dưới chính sự của các chúa Nguyễn. Nguyễn Du, Phạm Quý Thích xúc động trước trước cảnh khổ của con người ở đầu triều Nguyễn. Thơ Nguyễn Du chứa chất một niềm thương cảm mênh mong đối với cảnh sống vất vả, chết bơ vơ của đủ mọi hạng người trong xã hội loạn ly. Ông thương người ăn mày trên đường đi sứ, người kỹ nữ ở một triều đại oanh liệt đã lui vào hậu trường lịch sử. Với nhà Nguyễn, vào quãng giữa thế kỷ XIX, dân tình đói khổ điều linh quá, nà văn dù ở cuong vị xã hội nào cũng không thể không thấy cảnh tượng ấy. Bởi vậy thơ nói về cảnh đói khổ của nhân dân lại càng nhiều hơn trước. Cao Bá Quasrt thương xts một số người nhất định, sống đêu đứng trong chế độ xã hội bấy giờ, thường thường là kẻ sĩ lớp dưới: ông quan nhỏ bị coi thường, anh học trò nghèo, thầy lang đói. Lòng nhân đạo của Doãn Uẩn, của Tùng Thiện Vương, của Nguyễn Thông đã tiến đến chỗ có đối tượng rõ ràng là nhân dân lao động…
Người ta cũng không khỏi có đôi chút tự hào khi thấy Nguyễn Thông đặt vấn đề tương tự như các nhà xã hội chủ nghĩa ở châu Âu cuối thế kỷ XVIII:
Xương khô còn nhặt lại
Người sống sao bỏ rơi?
…………………….
Tay dệt, thân rét cóng,
Chân cày bụng đói dài
Phải chăng ông cũng cả thấy “mâu thuẫ nặng nề giữa sản xất và phân phối” như chúng ta nói ngày nay?
Một mặt khác của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học thời kỳ này là nó thực hiện những ước mơ, những nguyện vọng của con người trong mọi lĩnh vực, nhất là trong lĩnh vực tình cảm. Người ta ước nguyện trai tài gái sắc gặp gỡ nhau, thành chồng vợ, người ta ước nguyện người ngay thật, người tốt gặp may, người hoạn nạn được cứu vớt, kẻ bạo tàn phi nghĩa bị trừng phạt. Ngay đến những giấc mơ lớn muôn đời như đạp bằng những nỗi bất công trong xã hội, hoặc chiến thắng mọi trở lực thiên nhiên làm khổ con người , cũng thành tựu một cách vẻ vang trên hình tượng người dũng tướng Từ Hải, “phong trần mài một lưỡi gươm; những phường giá áo túi cơm sá gì!” và người anh hùng Thạch Sanh đã chiến thắng mọi trở lực thiên nhiên ở mặt đất, ở trên không , ở dưới nước. Về phương diện này, những tác phẩm dân gian, bởi vậy từ nền văn học của thời đại, toát ra một hương vị lãng mạn phảng phất hương vị chuyện đời xưa.
Nói chung khuynh hướng tư tưởng của văn học thời kỳ này là như thê, Giai doạn ba bốn mươi  năm đầu thế Kỷ XVIII, chúng ta không thấy tác phẩm nào thể hiện rõ rệt những tư tưởng nói trên, từ Chinh phụ ngâm về sau mới thấy rõ. Nhưng cũng trong nửa sau thế kỷ XVIII, vẫn có những tác gia như như Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích,v.v…không thấy mặt đau xót và mặt vươn lên của con người trong cuộc sống, cũng không phản ánh sự đồi bại của phong kiến. Một số triều thần Tây Sơn như Phan Huy Ích cũng vậy.Với triều Nguyễn, Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhâ Tĩnh, và sau đó một ít, Lý Văn Phức cũng không có tư tưởng phản kháng thực tại; trái lại họ thừa nhận đạo đức phong kiến một cách êm thấm, nhiều khi họ biểu dương cuộc sống trước mắt. Những nhà văn này trước hết là những ông quan tốt, nói chung nhất trí với đường lối chính trị của triều đình. Giá trị tác phẩm của họ là ở chỗ khác: có người có ý thức phát huy cảnh đẹp của đất nước, biểu dương dân tộc, có người ghi chép sự việc lịch sử một cách sinh động , vói tất cả lòng tha thiết của mình. Sống ở một giai đoạn mà sinh hoạt của cư dân miền Gia Định tương đối dễ dàng, Trịnh Hoài Đức phản ánh cảnh trufmaatj ở nông thôn và việc làm ăn cần mẫn của nhân dân một cách triều mến và cảm phục, Nguyễn Công Trứ là cái vạch nối giữa thời kỳ Nguyễn sơ và thời kỳ suy đồi cùng cực tiếp theo đó; tin tưởng ở chế độ, có ý tưởng về cuộc sống như một người “nam nhi” thời phong kiến thịnh vượng nghĩa là có một quan niệm về sự lập thân khong mâu thuẫ với quyền liwj nhân dân, ông cũng đã bắt đầu chán cái “thế thái nhân tình” trong xã hội thượng lưu và chỉ trích nó. Vài ba mươi năm đầu triều Nguyễn, một số cố thần hặc cơem vọng tộc triều Lê làm nên nhiều bài thơ u hoài thống thieestvaf nổi tiếng vì đó, nhưng chúng ta vẫn còn chọn được một số bài tả cảnh, vịnh có giá trị nghệ thuật cao.
Tóm lại, cái nọi dugn phê phán hiện thực và nhân đạo nổi bật và phổ biến trong vawnhocj thời kỳ này không làm cho chúng ta quên những tác gia không có xu hướng sáng tác như thế và đã biểu hiện những mặt khác của cuộc sống phong phú của dân tộc.
Description: Mỗi tấm biển đều có hai mặt 1
Văn học quốc âm phát triển đến trình độ một nền văn học dân tộc phong phú. Văn học thời kỳ này nói chung phát triển rất mạnh, trong đó văn học quốc âm từ thô sơ vươn lên trình dộ một nề văn học dân tọc thực sự. Chữ nôm có từ lâu và từ thế kỷ XIII, tương truyền đã bắt đầu có hững bài thơ, bài văn tế quốc âm ghi bằng chữ nôm. Ý thức dân tộc bộc khởi qua những trận chiến thắng chống quân  Nguyên, quân Minh, cùng với những cố gắng của Hồ Quý Ly, có nâng phẩm chất và địa vị của chữ nôm và sáng tác tác phẩm quốc âm lên nhiều . Thơ nom của nguyễn Trãi là một đỉnh cao sáng chói trong quá khứ. Nhung nhìn chung mấy thế kỷ ấy, ta vẫn thấy sáng tác tác phẩm quốc âm lác đac, tư tưởng chưa có gì thật mới, hình tượng cũng hiếm, so với sáng tác chữ Hán tuy không phải là phong phú, vẫn chiếm tỷ số cao hơn hẳn. Vào các thế kỷ XVIII, XIX nhất là từ những năm giữa thế kỷ XVIII đến những năm đầu thế kỷ XIX, văn học quốc âm phát triển đến một mức độ phong phú về khối lượng, chất lượng, và ngôn ngữ văn học cũng trưởng thành . Trong sự phát triển chung của văn học, sáng tác văn học chữ Hán vẫn nảy nở hơn trước và đạt đến những loại hình mới như ký sự, phê bình văn học. Nhưng về sáng tác quóc âm thì nhịp độ phát triển còn nhanh hơn nữa, và đã vượt lên hàng đầu về nhiều mặt. Minh Mạng và những vị vua sau, dù có cố đề cao chữ Hán, cố khôi phục địa vị độc tôn của chữ Hán, cũng không thể làm lu mờ địa vị của sáng tác quốc âm. Ở thế kỷ XIX, với sự phản công của ý thức hệ phong kiến do các vua triều Nguyễn cầm đầu, tư tưởng chính của văn học quốc âm- nói chung, của văn học- có bị chi phối một phần, nhưng về mặt khối lượng, thể loại, ngôn ngữ văn học thì văn học chữ nôm về căn bản vẫn giữ những thành quả đã đạt. Rõ ràng là từ đầu thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX. từ Song tinh bất dạ đến Tự tình khúc , bước tiến về hình thức là một con dường đi lên không gián đoạn. Những  cái làm chuẩn dích cho một nền văn học, tính hư cấu, tính hình tượng, tính văn học của ngôn ngữ trong tác phẩm đã hiện ra rõ ràng trong thời kỳ này. Ta có thể nói là với thế kỷ XVIII, XIX, ta đã có một nền văn học dân tộc hoàn chỉnh.
Sở dĩ Nguyễn Huệ có thể mạnh dạn đem chữ Nôm thay chữ Hán trong nhiều lĩnh vực , bát cả những anh đồ nho làm bài thi bằng văn chuong quốc âm, cũng là căn cứ trên khả năng hiện thực của nhân dân và thử thách những thắng lợi của chữ nôm. Và chắc chắn là việc cải cách của ông trong mười mấy năm, ngược lại đã có phần đóng góp trong sự nghiệp phát triển văn học tiếng Việt.
Loại hình và thể tài phát triển theo hướng dân tộc. Về các loại văn học, trước hết phải kể loại truyện thơ nôm có thể coi như là mới phát triển ở thời kỳ này. Về trước , có truyện Vương Tường, truyện Lâm tuyền kỳ ngộ, nhưng tuy gọi là truyện, đó chỉ là những bài thơ thất ngôn, mỗi bài nói một sự việc, một tâm trạng , có tính độc laapjcuar nó , đem chấp nối với nhau cũng không thể hiện được sự diễn biến liên tục của sự việc và tâm tư nhân vật. Với thế kỷ XVIII, XIX ra đời mọt loạt truyện thơ, dù chỉ kể những quyển haycofn lưu lại thì cũng hàng chục. Một bằng chứng tỏ ra loại hình ấy phát triển và được quần chúng ham thích là lắm khi người ta mượn hình thúc truyện để nói một tâm sự, một ý kiến về đạo đức, về chính trị như; Mai đình mộng ký, Trinh thử, Lục súc tranh công. Thể truyện thơ của ta hình thành từ hai nguồn: tiểu thuyết Trung Quốc và vè kể chuyện truyền miệng trong dân gian. Truyện Trung Quốc phát triển từ cuối đời Nguyên  , các cụ nhà nho ta đã từng biết, nhưng về trước, ảnh hưởng của nó chỉ tạo ra những hình thức ghi chép các truyền thuyết; đến Truyền kỳ mạn lục , thì phần hư cấu khá lớn, nhưng vẫn là chuyện hoang đường, kỳ quái, chưa phải là chuyện sinh hoạt cn người. Phải đợi đến lúc nhân dân biểu lộ rõ sức sống của mình, thơ lục bát cùng với truyện kể dân gian mới ngang nhiên đi vào văn học thành văn và kết hợp với tiểu thuyết Trung Quốc để làm nảy nở loại truyện thơ lý thú ở thời kỳ này. Cũng vì vậy, một số truyện nôm, nhất là truyện khuyết danh, vẫn giữ cái tính cang cường cũng như vẻ thô keechjthaatj thà của nguồn gốc, một số khác rõ ràng là truyện kể dân gian chép thành văn, không hơn không kém.
Bên cạnh truyện thơ nôm, phải xếp văn học tuồng của nhà Nguyễn. Xét về mặt tư tưởng thì các vở tuồng rõ ràng là thuộc ý thức phong kiến, ngươi fta xó thể tưởng rằng không chờ sự bộc khởi  của yếu tố nhân dân, tường vẫn phát triển và trưởng thành được. Nhưng về hình thức, tuồng cũng là một hình thái kể chuyện (không nói loại truyền miệng) vẫn dựa trên những điều kiện phát triển nht định về xã hộ và văn hóa. Cho nên những kịch bản tuồng, thường thường là dài, có mạch lạc, phải diễn hàng ba bốn, đến mấy chục buổi, nếu không ra đời sau truyện nôm thì cũng không thể xuất hiện quá trước truyện nôm. Khi nghe người miền Nam “nói tuồng”, người ta vẫn có cảm tưởng như là nghe kể Kiều, Lục Vân Tiên. Trong chừng mực nfo đó, có thể nói lịch bản tuồng là những truyện thơ dài viết bằng trực thoại. Dù tuồng là một bộ môn sân khấu đã có từ lâu đời thì kịch bản tuồng có lẽ cũng chỉ trước Gia Long còn lưu lại. Có mấy vở ra đời trong quãng từ Gia Long đến Thiệu  Trị  như Sơn Hậu, nhưng chính những bản ấy cũng đã bị sữa chữa về sau rời. Trong các vở tuồng được công chúng ham thích lâu dài, tính nhân dân trong hình tượng văn học hầu như át cái chủ đề tư tưởng phong kiến.
Cũng thời  kỳ này, xuất hiện loại văn ký sự bằng cữ Hán : bút ký như Thượng kinh ký sự, lịch sử ký sự như Hoàng Lê nhất thống chí- sách này có khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử - hồi ký như một số bài trong Vũ trung tùy bút, Tang thowng ngẫu lục . Về quốc âm , có những thiên bút ký bằng thơ, tường thuật việc riêng của tác giả, có thật như Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ hay tưởng tượng như Mai đình mộng ký. Trong các quyên ký sự chữ Hán, văn chương trog sáng, rõ ràng, chi tiết được chọn lọc tập trung để chứng tỏ một cái gì chứ không phải gặp gì ghi nấy. Cá quyên ký sự ấy đáng được coi là tác phẩm văn học. Tự tình khúc và Mai Đình mộng ký là những thiên ký sự trữ tình.
Thơ trữ tình phát triển rất cao. Không kể các cuốn truyện thơ mà phần trữ tình rất quan trọng, một loạt ca, ngâm ra đời nói nỗi niềm thầm kín của tâm tư trong những trường hợp cụ thể của cuộc sống; ngừi chinh phụ trông chồng (Chinh phụ ngâm), niêm u hoài phẫn uất của người cung nữ bị chán bỏ (Cung oán ngâm), nỗi truân chuyên oan khuất củ cá nhân (Tự tình khúc), người quả phụ tưởng nhớ chồng nh hùng đã quá cố (Ai tư vãn), lòng trai xa  nhà  nhớ vợ con, cảnh cũ (Thu dạ lữ hoài ngâm)…
Thơ thất ngôn cũng chuyển sang trữ tình mạnh hơn trước và giảm phần ngụ ngôn trết lý . Nhiều bài của Hồ Xuân Hương  và toàn bộ thơ Bà huyện Thanh Quan là thơ trữ tình. Cho đến thơ chữ Hán, xưa phần nhiều dùng để nói về những vấn đề trang nghiêm, những vấn đề lý trí, đạo đức, nay phần lớn chuyển sang nói tình yêu , nỗi vui buồn thương giận riêng tây. Đọc thơ Phạm Nguyễn Du, Nguyễn Hành , Nguyễn Huy Hổ, Phạm Quý Thích…chúng ta thấy rõ điều đó. Phạm Thái dùng từ khúc hầu như chỉ để nói tình yêu. Nhiều bài hát nói trữ tình của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát đã báo trước Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Khuyến.
Trong văn học tiếng Việt thành văn còn hình thành và phát triển một loại mới: Văn chuong trào phúng. Người ta biết rằng trong văn học truyền  miệng , loại chuyện tiếu lâm phát triển đặc biệt ở thời kỳ này. Nó đã kích mãnh liệt phong kiến nông thôn ( hào,lý, địa chủ, quan lại địa phương), các đồ đệ của lễ giáo phong kiến( thầy đồ, học trò); nó chế giễu các ạng thầy bà bịp bợm mọc lên như nấm trong một xã hội mà đời sống tư tưởng của nhân dân không ổn định; nó chỉ trích các thói hư tật xấu bành trướng trong một chế đọ suy tàn. Chuyện Trạng Quỳnh đả vào quan lớn, vua chúa, sứ giả “ thiên triều”, thần thánh, là một hợp tuyển truyền miệng của những sáng tác nhân dân phản phong có ý thức, với một nhân vật trung tâm và chủ động duy nhất và có tính chất nhất trí từ trước đến sau. Chuyện Trạng Quỳnh là đỉnh cao nhất của văn học trào phúng truyền miệng.
Trong văn học trào phúng thành văn có thơ của Hồ Xuân Hương. Thơ Hồ Xuân Hương là một hiện tượng xã hội và văn học độc đáo, đầy ý nghĩa, là sản phẩm của xu hướng giải phóng bản năng. Thơ Hồ Xuân Hương đập vào bọn vua chúa, quan lại, nho sĩ dốt nát, giả dối, dâm ô. Nó kéo cái mặt nạ uy nghiêm, bệ vệ, đạo đức của bọn chúng xuống, đẻ phơi trần bộ mặt thịt ra. Nó coi bọn “mày râu” , bon trượng phu, quân tử. Nó thường ám tỉ chuyện sinh lý, một đôi khi quá trón làm cho người đọc có độ lượng nhất cũng phải khó chịu, nhưng đó là tiếng nói phản kháng của bản năng bị dồn ep vì lễ giáo, luân lý, vì tính ích kỷ của người đàn ông.
Văn học trào phúng rõ ràng là sản phẩm của một xã hội trong ấy trật tự thống trị suy đồi, quần chúng nhân dân vươn lên mạnh mẽ, lấy lương tri chắc nịch của mình để phê phán mọi hiện tượng lạm quyền, hách dịch, giả dối, lố lăng, thất thế, v.v… bằng tiếng cười đả kích
Về thể tài, trong văn học thời kỳ này xuất hiện nhiều thể tài mới không có trong văn học thời kỳ trước. Vì sựu quật khởi của nhân dân, nội  dung và chủ đề trở nên phong phú và đa dạng, các thể tài cũ, chủ yếu là thơ thất ngôn, trở nên maacu thuẫ với nội dung, không phục vụ nổi nội dung mới. Yêu cầu tất yếu của văn học là làm cho thể tài sãn có càng có nhiều khả năng diễn đạt hơn và tìm thêm những thể tài mới. Nhũng cuộc thí  nghiệm thất bại không lưu dấu vết tất có nhiều, tuy vậy những thành công tồn tại cũng đủ xác định cái hiện tượng tìm tòi những khuôn khổ mới cả người đương thời.
Thể lục bát trong văn học thành văn thời trước chỉ thấy đôi câu tương truyền của Lê Đức Mao. Thiên nam ngữ lục ra đời sớm nhất là vào thế kỷ XVII. Vào thế kỷ XVIII, nhất là từ nửa sau thế kỷ , thể lục bát được dùng rất phổ biến và đã trở thành hầu như thể tài riêng để viết truyện. Trong ca dao đó là thể tài thích hợp cho thơ trữ tình, một đôi khi cũn dùng để tả cảnh, trào phúng. Nhưng với truyện nôm, lục bát đã được nâng lên mức có khả năng làm đủ mọi việc trong loại văn kể chuyện, nghĩa là mô tả, kể việc, ghi đối thoại trực tiếp, có khi giãi bày tâm sự, ý nghĩa của người viết.
Cùng với thể lục bát, thể song thất lục bát cũng phát triển và dược dùng vào các khúc ngâm, vãn..
Phạm Thái tìm trong văn học Trung Quốc các điệu từ khúc đem dùng vào sáng tác quốc âm để diễn tả tình yêu.
Trong các truyện nôm, người ta thấy có chen những bức thư (Phạm Công, Cúc Hoa), những đơn kêu, kiện(Trê, Cóc) viết bằng một thể thất ngôn đặc biệt: liền vần, vần trắc vần bằng nối tiếp  nhau.không theo niêm luật thơ Đường. Thể ấy được dùng một phần trong truyện Lưu Bình, Dương Lễ, trong Lục súc tranh công, trong các vở chèo truyền miệng. Nó đã trở thành thể điệu chính trong trong tuồng( nói lối)
Người ta sục sạo trong các thể văn khoa cử , cả trong ca xướng chuyên môn. Có những bài kinh nghĩa, văn sách nôm, tương truyền là của Lê Quý Đôn, viết rất đún luật cử nghiệp, nhưng chấp nối tài tình những ca dao, tục ngữ, ngạn ngữ, thành ngữ lưu hành trong dân gian. Thể phú đắc dụng nhất trong sáng tác quốc âm. Luật lệ khá rộng rãi của nó về vần và số câu, số chữ, làm cho nó trở thành một công cụ có nhiều khả năng diễn đạt được những tình cảm và ý nghĩ phức tạp: việc đối chữ, đối tiếng ở phú không phải là một trở ngại lớn mà nhiều khi còn giúp cho người ta nói sắc bén hơn. Vì vậy, thể phú từ đầu thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX cứ thế phát triển không ngừng và đã lưu lại cho ta những bài phú và văn tế (phần lớn văn tế làm theo thể phú) tả cảnh, trữ tình, tố cáo phong kiến, châm biếm có giá trị.
Ngành ca xướng chuyên nghiệp gọi là “hát ả đào” cũng đã giúp cho văn học thể tài hát nói khá thịnh hành từ Nguyễn Công Trứ trở về sau.
Với bài Khóc chị của Nguyễn Hữu Chỉnh và bài Tế Trương Quỳnh Như của Phạm Thái, không vần,không niêm luật, không hạn câu, hạn chữ, dùng biền ngẫu cũng thỉnh thoảng và tùy nghi, chúng ta thấy văn xuôi nôm cơ hồ như muốn xuất hiện trong sáng tác văn học.
Ngôn ngữ văn học trưởng thành. Sáng tác tác phẩm quốc âm xuất hiện từ lâu, nhưng cho đến nửa đầu thế kỷ XVIII, có thể nói là ngôn ngữ văn học chưa trưởng thành. Mặc dù chúng ta thấy ngôn ngữ văn học ở thơ Nguyễn Trãi và ở một vài câu thơ lẻ tẻ của những người khác khá cao chúng ta vẫn chưa thể khẳng định là trong văn học bấy gờ đã hình thành một ngôn ngữ văn học làm cái chuẩn đích cố gắng chung của mọi người sáng tác. Lập trường của người cầm bút đương thời còn chao đảo, khi thì họ bắt chước văn chương cử nghiệp Trung Quốc, và lấy việc dùng nhiều danh từ, điển cổ làm tài, khi thì họ lạm dụng tiếng nói dân gian nguyên chất với tục ngữ ngạn ngữ của nó,thậm chí còn chưa học tập ngôn ngữ trữ tình của và có hình tượng của ca dao. Hai thiên hướng cố hữu này đành rằng không phải không rớt lại  ở thế kỷ XVIII, XIX; thời này vẫn còn tác phẩm mắc bệnh không tiêu hóa Hán văn và tác phẩm sao y ngôn ngữ dân gian, thậm chí có tác phẩm vướng cả hai tật, như Trinh thử. Nhưng với sự ra đời của của tác phẩm tiêu bieeruddaafu tiên của thời đại là Chinh phụ ngâm(bản tiếng Việt), nhất là sau đó với Truyện Kiều, người ta bắt gặp một đôi chỗ tác giả bắt chước vụng về, sống sượng, hoặc tập làm theo phuong pháp của nhà văn lỗi lạc mà không nắm được tinh thần. Nhưng căn cứ trên những thành tựu được quần chúng thưởng thức, và trên hướng cố gắng của nhà văn, chúng ta có thể nêu mấy điểm dặc sắc của ngôn ngữ văn học đã trưởng thành ấy là:
1.Hạn chế việc dùng danh từ và điển cố Trung Quốc nguyên sao.
2.Chọn lọc trong ngôn ngữ dân gian, học tạp cách diễn đạt ở ca dao, tục ngữ để rút ra những cái gì đạt nhất về tính hình ảnh và tính âm điệu.
3.Mượn những lời và chữ làm hàm súc và hoa mỹ của văn học Trung Quốc, nhất là trong thơ Đường, tiểu thuyết, đem diễn đạt qua tiếng Việt Nam, theo cách nói thuần thục tự nhiên nhất của ta, nhiều khi có thay đổi, phát triển rất sáng tạo.
4. Tác giả vận dụng kiến thức thẩm my về văn học Trung Quốc của mình để không ngừng nâng cao tính nghệ thuật của ngôn ngữ văn học ta.
Tóm lại, sự trưởng thành của ngôn ngữ văn học thế kỷ XVIII, XIX biểu lộ ở chỗ ngôn ngữ văn học ở đây kết tinh sự nhào nặn những nguyên liệu bác học hai hướng là cho ngôn ngữ văn học thuần thục dân tộc và đẹp đẽ, giàu sang, cứng cát hơn. – Tất nhiên để làm thành công việc ấy,để gây được cảm xúc nghệ thuật sắc sảo cho nhân dân, ý chí kiên định và tài năng sáng tạo của nhà văn đóng một vai trò quyết định.
Chúng ta hãy lây một vài thí dụ trong hàng nghìn. Hình ảnh cái lầu mfu xanh không có trong bộ mặt thành thị ta, con suối nước vàng không có trong tín ngưỡng ta, lầu xanh, suối vàng là những tiếng dịch các danh từ thanh lâu, hoàng tuyền của Trung Quốc, nhưng lầu xanh, suối vàng đã đi vào văn học ta, lại một cách tự nhiên, đến mức làm được cái việc danh từ tạo nên hình ảnh. Nguyễn Du không dùng điển cố dưới  ngôn ngữ bình thường một cashc huyền diệu: “ Mắt xanh chưa để ai vào đó không ?” đã miễn cho người đọc cái công tra điển, vì cần gì đến điển Nguyễn Tịch đời Tấn mới hiểu câu ấy? Hơn thế, cái hình ảnh người con gái đẹp để chàng trai vừa ý vào cặp mắt xanh của mình vô cùng lý thú và tự nhiên hơn câu chuyện anh Nguyễn Tịch kiêu kỳ nọ.
Đè tranh tố nữ, Xuân Hương mở đề:
Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình?
Chị xinh mà em cũng xinh.
Nói về chuyện phải nhân nhượng lẫn nhau, dung hòa ý người ý ta, Nguyễn Du viết:
Mà trong lẽ phải có người có ta.
Nguyễn Công Trứ bàn về chuyện lòng người không thể lường:
Có ai lặn lội đo mồm cá
Mà biết vuông tròn uống lưỡi câu?
Còn gì đẹp, tài tình mà vẫn tự nhiên như lời nói dân gian cho bằng mấy câu ấy?
Khi đọc:
Xông pha gió bãi trăng ngàn,
Tên reo đầu ngựa, giáo dan mặt thành.
(Chinh phụ ngâm)
Hay:
Rộng thương cỏ nội hoa hèn
Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau?
(Truyện Kiều)
Người ta thấy câu thơ mô tả có tính chất hùng ca nọ và câu đối thoại nhún nhường tình tứ, làm ngây ngất lòng người anh hùng kia là những câu thơ Việt Nam rất đẹp đã được luyện qua cái lò bác học.
Thời đại kia đã qua, người xưa không còn nữa nhưng những cnahr sống den tối, đau buồn, những con người quằn quại hay vẻ vang, những ước mơ của nhiều thế hệ đã được tái hiện trong văn học . Người không còn, nhưng hình ảnh , hương sắc đương còn: đó là những tác phẩm thơ văn  vô cùng đẹp đẽ của thời ấy. Hình thành qua đấu tranh, nó phản ánh cái khí thế chiến thắng của quần chúng nhân dân trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, và mãi mãi sẽ là niềm tự hào của dân tộc.


GỌI TÊN MÙA NỖI NHỚ

GỌI TÊN MÙA NỖI NHỚ
Lang thang qua những con phố thân quen, trải lòng cùng cơn gió mơn man làn da mái tóc, có đôi lúc ngập ngừng muốn dừng lại, ngồi gục xuống vệ đường yên lặng nhìn dòng người ngoài kia vẫn vội vã, trông chờ trong đám đông ấy có dáng dấp người thương. Rồi mong ước rồi chỉ cần một hình ảnh hao hao cũng khiến trái tim gần như ngừng nhịp đập.



               tình yêu mùa nỗi nhớ
Mùa nỗi nhớ tràn về len lỏi cái dư vị tình yêu đầu ngây ngô và khờ dại. Phút nắm tay nhẹ nhàng, nụ hôn nhanh chớp choáng cũng đủ để má ai đó bỗng dưng ửng đỏ. Người ta vẫn triền miên nếm nỗi nhớ sâu thẳm từng khoảnh khắc không gian và thời gian. Có gì đó như vô hình chạm nhe lên khóe mắt vậy mà vô tâm lật ra màn ký ức thấm đẫm kỷ niệm. Càng cố quên càng bủa vây nỗi nhớ, càng gượng cười, tim lại càng đau hơn.
Gọi tên mùa nỗi nhớ là lúc em ngủ quên bên lề những bận rộn. Vùi mình trong góc tối tự trấn an bản thân không được yếu mềm, không nước khóc, phải thật mạnh mẽ thật can đảm ấy vậy mà nước mắt vẫn lan tràn trên má. Những dòng tin nhắn chưa dám xóa, đêm ngày vẫn thường đọc lại, khẽ mỉm cười và cảm nhận như thói quen nói chuyện cùng người thương vẫn còn chưa vao giờ chấm dứt. Xem như chưa từng quen nhau là điều quá khó để có thể thực hiện khi mà bản thân còn nhớ nhung, còn chờ đợi, còn hi vọng bỗng một sớm mai người ấy gõ cửa ôm chầm lấy và lại ngọt ngào ấm áp.
Gọi tên mùa nỗi nhớ là khi em lo sợ đếm trong tâm thức bao nhiêu xuân xanh nữa em mới có thể xua đi những nhớ nhung dày vò trái tim bé nhỏ. Người ta vẫn thường nói chỉ có thể có tình yêu mới cập bến mới vơi đi quá khứ đã qua nhưng thật khó khi bản thân ngại yêu thương, ngại quan tâm một người mới, ngại chấp nhận con tim mình có chủ nhân khác thay thế. Cứ vậy vẫn bầu bạn với nỗi cô đơn đằng đẵng để rồi trốn tránh thực tại, thu mình lại với bao mớ cảm xúc không đâu chẳng đầu chẳng cuối.
Gọi tên mùa nỗi nhớ là mỗi lần bất chợt nhìn lá cây chao nghiêng rơi xuống đường, tự trách cây với gió sao vô tình không thể níu lá ở lại. Nhưng rồi bỗng ngu ngơ phát hiện ra quy luật cuộc sống chẳng có gì có thể tồn tại mãi mãi, lá hết thời cũng phải trở về với cát bụi để nhường chỗ cho chồi non tung tẩy. Con tim hết hạn thì cố níu kéo cũng chẳng bao giờ có nổi tình yêu.
Đêm lành lạnh, tiếng chuông gió phảng phất trong không gian tĩnh mịch. Tĩnh đến mức nỗi lòng hỗn tạp những mông lung có thể trỗi dậy gượng nhúc nhích hoài niệm cũ kỹ. Trăn trở quan tâm người ở phương nao chẳng biết đang làm gì và tự ngụy biện cho bản thân rằng đã hết yêu hết rung động. Còn nỗi nhớ dai dẳng ám ảnh kia cứ để nó thành một mùa riêng đặc biệt- gọi tên mùa nỗi nhớ.
Sưu tầm