Thứ Bảy, 23 tháng 3, 2013

QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG " CÁNH ĐÔNG BẤT TẬN"


                                        ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghiên cứu văn chương trong bối cảnh lí luận văn học hiện đại từ góc độ thi pháp học (tức là xem văn chương như một chỉnh thể, một hệ thống và cấu tạo nên hệ thống đó là một loạt các thành tố tương tác với nhau một cách có quy luật) là một trong những cách tiếp cận rất khoa học mà nhân lọa có đến nay. Trong đó có một phạm trù rất quan trọng của thi pháp học chi phối việc đánh giá sự thành công trong sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ là quan niệm nghệ thuật về con người. Trên cơ sở lí luận ấy, người viết chọn vấn đề quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư để từ đó thấy được một quan niệm ngòi bút sắc sảo của chị khi viết về những dân nông thôn của vùng đất Nam bộ này.
                                     NỘI DUNG
1.     Đôi nét về tác giả Nguyễn Ngọc Tư
Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn trẻ của vùng đất tận cùng của Tổ quốc. Chị sinh năm 1976 tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau trong một gia đình có truyền thống cách mạng. Nguyễn Ngọc Tư là một hiện tượng văn học độc đáo khiến đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước quan tâm.
Sau hơn mười năm cầm bút (tính từ 1997 đến năm 2009), Nguyễn Ngọc Tư đã có 11 đầu sách được xuất bản. Trong số các tác phẩm đã in, tập truyện Cánh đồng bất tận được coi là thành công hơn cả. Tính đến tháng 02 năm 2007, tập truyện Cánh đồng bất tận  đã tái bản đến lần thứ 12. Năm 2007, Nguyễn Ngọc Tư được mời sang Hàn Quốc để nói về Cánh đồng bất tận và tác phẩm này được dịch ra tiếng Hàn. Đầu năm 2009, cũng chính Cánh đồng bất tận được chuyển thể thành một kịch bản cùng tên.
Cả nước biết đến Nguyễn Ngọc Tư như một trong những cây bút tài năng góp phần làm sống động nền văn học. Nhà văn Dạ Ngân khẳng định: “Nhờ có Nguyễn Ngọc Tư mà “nền văn học Nam Bộ cao lên được mấy thước”. Thậm chí, có ý kiến cho rằng: “Nguyễn Ngọc Tư đã góp phần đưa văn học vùng ra khỏi cái khuôn sáo “ngô nghê mà thiếu tự nhiên” đã tồn tại quá lâu trong văn học Đồng bằng sông Cửu Long”
2. Tóm tắt truyện ngắn “Cánh đồng bất tận
Truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” lấy bối cảnh miền Tây Nam Bộ. Ở nơi đó, ông Út Vũ là một nông dân chân chất, hiền lành làm nghề thợ mộc. Rồi một ngày, ông tình cờ gặp một cô gái xinh đẹp đang ngồi khóc trên bến sông. Cô gái xinh đẹp, có “nụ cười lấp lánh cả khúc sông” và “làn da trắng như bông bưởi” ấy đã làm xiêu lòng trái tim của Út Vũ. Cả hai nên vợ nên chồng, sống hạnh phúc bên căn nhà lá nằm cạnh con sông Dài có những hàng mắm cặp mé sông và có với nhau hai đứa con: Nương, Điền .
Hạnh phúc không ở lâu với gia đình Út Vũ. Cuộc sống nghèo khó, lại rày đây mai đó khiến ông không thể giữ được tình yêu của người vợ đang trong thời kỳ xuân sắc. Cô “bỏ nhà theo trai”, để lại cho chồng  hai đứa con nhỏ bơ vơ và mái nhà tranh vách lá. Hận vợ phụ tình, ông Vũ đốt nhà, dắt con phiêu bạt trên chiếc ghe đi chăn vịt từ cánh đồng này đến cánh đồng khác. Thời gian thấm thoát trôi, những cánh đồng mà cha con ông Vũ đi qua không sao kể xiết, nhưng nỗi hận trong lòng ông vẫn không thể nguôi ngoai. Nó khiến ông ngày càng trở nên cộc cằn và cáu gắt. Trong khi đó, Nương lớn lên ngày càng xinh đẹp như mẹ. Bao nhiêu bực dọc, bao nhiêu uất ức và căm hận của ông vì thế đều trút lên hai đứa con của mình và lên những người đàn bà mà ông bắt gặp. Ông hận tất cả đàn bà. Ông để họ yêu mình và rồi lại bỏ rơi họ theo cách mà ông đã từng bị bỏ rơi.
Cuộc sống nặng nề và u ám của ba cha con ông Vũ cứ thế tiếp diễn, ngày qua ngày. Cho đến một ngày kia, hai chị em Nương và Điền tình cờ giải cứu cho cô gái điếm tên Sương  đang bị những người đàn bà trong xóm đánh ghen, tra tấn. Sự xuất hiện của Sương đã mang lại chút không khí đầm ấm cho hai đứa bé thiếu tình thương của cha mẹ, cho những bữa cơm của Nương và Điền thêm phần ấm áp và cho cuộc sống tinh thần của hai chị em bớt tẻ nhạt. Tuy nhiên, đối với ông Vũ, sự xuất hiện của Sương càng khiến vết thương của ông thêm phần nhức nhối. Ông vẫn lạnh lùng, vẫn cáu gắt và đay nghiến thân phận “làm đĩ” của Sương, dù có thể ở tận sâu đáy lòng mình, ông có dành cho Sương một chút tình cảm, giống như là tình yêu. Trớ trêu thay, người phụ nữ “làm đĩ” ấy lại đem lòng yêu ông Vũ. Cô làm tất cả để bảo vệ ba cha con ông, kể cả việc “đi đêm” với hai cán bộ kiểm dịch để đổi lấy đàn vịt. Tuy nhiên, tình yêu ấy lại được đáp lại bằng sự chua chát và thái độ thù hận. Sương quyết định bỏ đi. Điền cũng bỏ nhà đi tìm Sương. Chỉ còn lại Nương và ông Vũ, tiếp tục cuộc hành trình cô độc trên những cánh đồng bất tận…Cho đến một ngày, khi trái tim của ông Út Vũ dần nguôi ngoai, tình thương của người cha quay về thế chỗ cho những hận thù thì một biến cố lớn lại ập đến cho gia đình ông Vũ, cho cô con gái tội nghiệp của ông…Trên “cánh đồng bất tận”, con gái ông bị bọn côn đồ ăn cắp vịt cưỡng hiếp trước sự bất lực của người cha.
3. Khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người.
“Văn học là nhân học, đối tượng thể hiện chủ yếu của nó là con người”. Chúng ta không thể lí giải một hệ thống văn, thơ mà bỏ qua con người được thể hiện trong đó. Tuy nhiên sự miêu tả con người trong văn học không bao giờ là sự sao chép, chụp ảnh và tâm hồn nhà văn cũng không như một tấm gương trong cho sự phản chiếu nào. Nhà văn sáng tạo ra nhân vật, kể ra, miêu tả ra nhân vật, nhân vật bao giờ cũng hiện ra theo cách hình dung, cảm nhận của tác giả, tức là mỗi nhà văn đều có một quan niệm khác nhau về con người. Trong lịch sử văn học chẳng những con người với tư cách là đối tượng của văn học đổi thay, mà ngay quan niệm nghệ  thuật về con người cũng thay đổi làm cho khả năng chiếm lĩnh con người trong văn học ngày càng sâu sắc, phong phú và tạo thành lịch sử của sự miêu tả con người trong văn học.



3.1.Quan niệm nghệ thuật về con người là nguyên tắc lí giải, cảm thụ của chủ thể
-   Trong quyển “ Giáo trình Thi pháp học” của GS. TS. Trần Đình Sử
+ “Nhà văn không thể miêu tả đối tượng mà không có quan niệm về đối tượng. Quan niệm là một phương tiện thiết yếu của sáng tạo nghệ thuật”. Ý kiến này xem quan niệm vừa là cái chi phối đối tượng vừa chuyển hóa vào cách xây dựng hình tượng.
+ “Quan niệm nghệ thuật gắn liền với thế giới quan, với quan điểm triết học, chính trị. Nhưng nó có sự chuyển hóa từ quan niệm chính trị, quan niệm triết học sang quan niệm nghệ thuật. Quan niệm ấy gắn liền với phương tiện nghệ thuật (…). Khi nhà văn thay đổi quan niệm nghệ thuật thì cũng thay đổi luôn phương tiện. Do đó muốn đổi mới nghệ thuật thơ ca  trước hết phải đổi mới quan niệm”. Quan niệm này đã phân biệt quan niệm nghệ thuật về con người với quan niệm về con n gười của triết học , khoa học, xã hội học, đồng thời xem quan niệm là cái giúp đánh giá sự đỏi mới tư duy nghệ thuật của tác phẩm.
+ “Không phát hiện được quan niệm nghệ thuật về con người thì  không thể tiếp cận nghệ thuật một cách nghệ thuật. Quan niệm nghệ thuật về con người gắn liền với cá tính sáng tạo của nhà văn, gắn liền với sự vận động của lịch sử”.Đây là sơ sở lịch sử xã hội văn hóa của quan niệm nghệ thuật về con người.
-   Quan niệm của tác giả tập tiểu luận “Lý luận và phê bình văn học ” của GS. TS. Trần Đình Sử:
+ “Sự hứng thú với vấn đề quan niệm nghệ thuật đánh dấu sự đổi thay đáng kể trong hệ hình tư duy, sự chuyển dịch chú ý từ đối tượng, từ sự phản ánh khách thể sang chủ thể và hệ quy chiếu của nó. Một thời gian dài quan niệm sáng tác bị đồng nhất vào thế giới quan, mà thế giới quan được hiểu một cách quy phạm như một phạm trù bất biến (…)trong khi thực chất của sáng tạo nghệ thuật là trên cơ sở hấp thụ các yếu tố thế giới quan nhất định của thời đại, tạo ra quan niệm của mình về thế giới và con người. Do vậy, khái niệm “quan niệm” đòi hỏi phải nhìn sâu vào thực chất sáng tạo tư tưởng của nhà văn, phân biệt tác giả có quan niệm và tác giả không có quan niệm”. Ý kiến này xem quan niệm là sự thể hiện chủ quan rất riêng của người nghệ sĩ.
+ “Trong nhệ thuật, thế giới được quan niệm hóa trên cơ sở sự cảm thụ cá nhân về một thế giới thỏa mãn nhu cầu về sự tồn tại của nó. Nghệ thuật nâng sự cảm thụ thế giới lên lên tầm quan niệm về thế giới, ứng với một quan niệm nghệ thuật là một thế giới nghệ thuật. Với ý nghĩa này quan niệm nghệ thuật là phạm trù về các chỉnh thể nghệ thuật, là công cụ để tư duy về các hiện tượng nghệ thuật cũng như những chỉnh thể”. Ý kiến này xem quan niệm nghệ thuật là cái khái quát được chuyển hóa thành thế giới nghệ thuật
-  Quan niệm trong quyển “Một số vấn đề Thi pháp học hiện đại ” của GS. TS. Trần Đình Sử : “Phạm trù quan niệm nghệ thuật thuộc phạm vi ý thức của văn học, gắn liên với ý thức về chức năng, nhiệm vụ, khả năng của văn học, nó là cách cắt nghĩa của văn học đối với con người’.
Như vậy quan niệm nghệ thuật về con người là nguyên tắc lí giải, cảm thụ của chủ thể.
+ Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lí giải, cắt nghĩa, sự cảm nhận của con người đã được trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật, giá trị thẩm mĩ.
+Nhân vật là hình thức cơ bản để miêu tả con người trong văn học. Tuy nhiên, lâu nay người ta chỉ chú trọng phương diện khách thể của nhân vật mà xem nhẹ các nguyên tắc lí giải, cảm thụ và biểu hiện chủ quan của chủ thể sáng tạo.
            3.2.  Cơ sở lịch sử xã hội và văn hóa của quan niệm nghệ thuật về con người
Quan niệm nghệ thuật về con người là nguyên tắc cảm thấy, hiểu và miêu tả con người trong văn học. Nhưng các nguyên tắc ấy có cơ sở sâu xa trong thực tế lịch sử. Do đó, quan niệm nghệ thuật về con người là một sản phẩm của lịch sử. Chẳng hạn như quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa trước hết gắn liền với thế giới quan Mac- Lênin , với thực tế đấu trnh cách mạng do giai cấp vô sản lãnh đạo và nhất là gắn với quan niệm về con người mới và cuộc sống mới .
Quan niệm nghệ thuật về con người cũng là sản phẩm của văn hóa tư tưởng. Chẳng hạn như quan niệm về con người vũ trụ trong văn học trung đại Việt Nam gắn liền với cảm thức xã hội của con người trung đại. Đó là quan niệm Thiên Địa  Nhân hay “ Thiên- Nhân thương cảm” , con người là tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ, con người có mối liên hệ mật thiết với thiên nhiên. Chính vì thế con người trong văn học trung đại thường cản nhận mình trong mối quan hệ với đât trời với những cái lớn lao cao cả.
Quan niệm nghệ thuật về con người còn mang dấu ấn sáng tạo của người nghệ sĩ, gắn liề với cái nhìn của người nghệ sĩ. Trong văn học ta bắt gặp con người tha hóa trong sáng tác của Nam Cao, con người vô nghĩa lí trong sáng tác Vũ Trọng Phụng, con người chính trị trong thơ Tố Hữu,…
Trong các thể loại văn học khác nhau, chức năng và hệ thống phương tiện biểu hiện khác nhau, quan niệm nghệ thuật về con người cũng khác nhau. Con người trong thần thoại là con người siêu phàm như năng lực, một sức mạnh để chế ngự thiên nhiên hay thực hiện một công việc nào đó,con người trong truyện cổ tích là hiện thân của một quy ước xã hội,…


3.3. Ý nghĩa của quan niệm nghệ thuật về con người
Quan niệm nghệ thuật về con người tạo thành cơ sở, thành nhân tố vận động của nghệ thuật, thành bản chất nội tại của hình tượng nghệ thuật. Quan niệm nghệ thuật về con người không phải là bất kì ách ắt nghĩa nào về con người mà là cách cắt nghĩa mang tính phổ quát, mang ý nghĩa triết học. Nghệ sĩ suy nghĩ về con người, cho con người, nêu ra những tư tưởng mới để hiểu về con người. Do đó càng khám phá quan niệm nghệ thuật về con người thì càng đi sâu vào thực chất sáng tạo của họ, càng đánh giá đúng thành tựu của họ.
Con người trong văn học không chỉ là con người có trong thực tế, mà còn là quan niệm về con người ấy một cách thẩm mĩ và nghệ thuật. Chẳng những đề tài văn học không ngừng đổi thay, mà quan niệm nghệ thuật về nó cũng luôn luôn phát triển, làm cho đối tượng được nhìn từ góc độ mới.
Bỏ qua quan niệm nghệ thuật về con người sẽ dẫn đến hiểu đơn giản bản chất phản ánh của văn nghệ. Vấn đề quan niệm nghệ thuật về con người thực chất là vấn đề về tính năng động của nghệ thuật trong việc phản ánh hiện thực, lí giải con người bằng các phương tiện nghệ thuật, là vấn đề về giới hạn, phạm vi chiếm lĩnh đời sống của một hệ thống nghệ thuật, là khả năng thâm nhập của nó vào các miền khác nhau của cuộc đời.
Chừng nào chưa có đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người thì sự tái hiện các đời sống khác nhau chỉ có ý nghĩa mở rộng về lượng trên cùng một chiều sâu. Thật khó nói tới sự phát triển của tư duy nghệ thuật mà thiếu sự mở rộng, đào sâu các giới hạn trong quan niệm nghệ thuật về con người.


4. Những biểu hiện quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn “ Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư.
Trong “Cánh đồng bất tận”, Nguyễn Ngọc Tư đã xây dựng được một thế giới nhân vật có tính cách, số phận riêng khá độc đáo. Quả thật, những nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư luôn gây cho chúng ta những day dứt, ám ảnh khi đọc xong tác phẩm. Phần lớn những nhân vật trong tác phẩm của chị đều thuộc vào những kiếp người bình thường nhỏ bé, nhưng lạ thay họ đều không hề tầm thường; thậm chí không ít nhân vật có sự hi sinh đầy cao thượng, có tính cách có thể nói là cao cả. Ngoài ra, điều chúng ta ít ngờ tới, đó chính là những con người lao động bé nhỏ kia, lại có thể là kẻ suốt đời ôm mộng, chạy theo một niềm say mê của mình. Do đó, tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư trong Cánh đồng bất tận sẽ góp phần giúp chúng ta đánh giá đúng những sáng tạo của chị trong truyện ngắn.
4.1. Đặt nhân vật trong các tình huống để các nhân vật tự bộc lộ bản chất, tính cách của mình.
 “Tình huống truyện là toàn thể những sự việc xảy ra tại một nơi, trong một thời gian hoặc một thời điểm”. Chính tình huống nó tạo thành các tứ riêng, làm nổi bật điều mà nhà văn muốn gửi gắm cũng như bản chất của nhân vật. Trong Cánh đồng bất tận Nguyễn Ngọc tư cũng đặt nhân vật vào trong những tình huống đầy kịch tính. Trước hết đó là tình huống vợ Út Vũ bỏ chồng, bỏ con để đi theo người đàn ông khác, bi kịch gia đình tan vỡ bắt đầu từ đây. Hận đời, hận tình người cha phóng lửa đốt nhà rồi đưa hai con lênh đênh trên chiếc thuyền nhỏ làm nghề chăn vịt, nay đây mai đó kiếm sống. Nỗi hận của người cha trong Cánh đồng bất tận thật ghê gớm. Khởi đầu chỉ là sự khó chịu, ghét những gì liên quan đến người vợ. Nhưng dần dần nó phát triển thành ý muốn “tiêu diệt” những gì có thể nhắc nhở đến người vợ ấy. Trước hết là sự đánh đập đứa con gái chỉ vì nó giống mẹ. Sau đó, nỗi hận ấy được nâng lên thành nỗi hận phổ quát: hận tất cả đàn bà. Nhân vật Út Vũ đốt nhà của mình rồi dẫn hai đứa con và đàn vịt vào những cánh đồng trong cõi hận. Với nỗi hận ghê gớm, người cha đã thực hiện việc trả thù… toàn bộ giới phụ nữ. Ông ta quyến rũ họ, và khi họ vừa bỏ nhà, bỏ cửa, bỏ chồng, bỏ con để “cuốn gói” theo… tiếng gọi tình yêu thì ông ta ngay lập tức bỏ rơi họ. Nỗi hận ấy làm cho con người không ngượng ngùng, hổ thẹn và không chùn tay, không sợ hãi khi làm điều sai xấu. Nhân vật không có trách nhiệm dạy bảo các con, cũng không che đậy vì hành vi lừa dối, và sự thù hận là cái cớ làm cho ông không còn biết hổ thẹn. Qua các tình huống đó,Nguyễn Ngọc Tư cho  ta thấy một hình ảnh người đàn ông ở đây là một kẻ hận thù đến mức mù quáng; trở thành kẻ tàn nhẫn, bất nhân. Tiếp theo là tình huống Nương cứu được người đàn bà đang bị người ta đánh ghen đến mức dã man, rồi cả tình huống Nương bị cưỡng hiếp ngay trước mặt người cha của mình...
Mặc dù Nương sống trong môi trường vô cùng tăm tối đó nhưng vẫn giữ được tâm hồn đầy tình yêu thương cũng như niềm tin vào một tương lai tươi sáng hơn. Ngược lại, ông bố lại lợi dụng tình yêu của kẻ khác để thỏa mãn lòng hận thù mù quáng của mình. Những tình huống này không mới, tuy nhiên chúng ta có thể nhấn mạnh rằng ở đây là tính cách của các nhân vật đó đều nổi bật nhờ cách tạo dựng tình huống truyện.
Thật vậy, tình huống truyện không chỉ là yếu tố thúc đẩy cốt truyện phát triển mà như ta đã thấy nó còn như là “chất xúc tác”, là thứ nước rửa ảnh để từ đó nhà văn tái hiện rõ nét hơn tính cách, bản chất của từng nhân vật. Qua đó phần nào khái quát được bức tranh tính cách của con người trong hiện thực đời sống.
4.2. Quan niệm nghệ thuật về con người qua cách miêu tả ngoại hình nhân vật.
“Ngoại hình là một khái niệm nhằm chỉ toàn bộ những biểu hiện tạo nên dáng vẻ bề ngoài của nhân vật”. Đó chính là những nét về diện mạo, hình dáng, trang phục, cử chỉ, tác phong của nhân vật được biểu hiện trong tác phẩm. Chỉ bằng vài nét bút thoáng qua có tính chất chấm phá nhưng Nguyễn Ngọc Tư đã tái hiện, dựng lên chân dung các nhân vật một cách rất rõ nét trước mắt người đọc. Để từ chân dung đó, người đọc có thể nhìn thấu một cách sinh động, trọn vẹn tính cách nhân vật.
Dân gian thường nói “nhìn mặt mà bắt hình dong”. Có lẽ rất do rất tâm đắc với với lời nói đó nên Nguyễn Ngọc Tư đã rất hứng thú trong việc phác hoạ lại hình ảnh các khuôn mặt. Thật vậy, khuôn mặt là điểm nhận biết đầu tiên khi người ta tiếp xúc với nhau, là nơi bộc lộ mọi trạng thái cảm xúc vì vậy nó là một phần để người ta nắm bắt tâm lý của nhau. Nắm bắt được điều đó Nguyễn Ngọc Tư đã thể hiện sự thành công đặc biệt của mình khi phác hoạ hình ảnh dễ gợi này.
Viết về những người đàn bà buôn hương bán phấn, Nguyễn Ngọc Tư đã không cần tốn quá nhiều công sức khi khái quát về tính cách, nghề nghiệp của họ. Viết về họ, Nguyễn Ngọc Tư đã chớp ngay được “cái con mắt đung đưa’’, “nụ cười tung tẩy trên khóe mắt”. Cái con mắt “đung đưa” “tung tẩy” gợi tình, mời tình ấy cũng đủ giúp ta hình dung được sự phong trần, lả lơi của một kiếp đàn bà. Tiếp đến cụ thể hơn là hình ảnh “mắt và cổ đã nhão”,  “Chúng tôi đã gặp nhiều, rất nhiều người phụ nữ giống chị. Cứ mỗi mùa gặt, họ lại dập dìu trên đê, lượn lờ quanh lều của những thợ gặt, những người đàn ông giữ lúa và bọn nuôi vịt chạy đồng. Họ cố làm ra vẻ trẻ trung, tươi tắn nhưng mặt và cổ đã nhão ra, nhìn kỹ phát ứa nước mắt”. Đặc biệt, Nguyễn Ngọc Tư còn vạch cho ta thấy nhưng vết thương toang hoác của cuộc đời mà đã chấp nhận để được ăn trên miếng cơm, manh áo của người khác. Hình ảnh của nhân vật Sương sau trận đánh ghen “môi chị sưng vểu ra xanh dờn; những mảnh thịt mà người ta cấu nhéo tím ngắt’’, “đôi vú rách bươm và khoảng đùi rớm máu” đau đớn ê chề nhục nhã nhưng người đàn bà đó vẫn chấp nhận, như một lẽ tất nhiên khi đã chấp nhận dấn thân vào cái nghề tàn khốc đó. Trước sự đau đớn mà chị phải chịu, trước việc biết được người ta đã đổ keo dán sắt vào cửa mình chị thì một lần nữa để thấy được thái độ của mọi người. Bằng việc đặc tả đôi mắt của người cha: “tôi đọc được sự ghê sợ, kinh tởm cồn lên trong mắt cha”. Nhưng cũng với đôi mắt ấy, ở một hoàn cảnh khác sắc thái cảm xúc mà nó biểu hiện lại khác.
Sau khi quyến rũ được người cha chung chạ qua đêm với chị cha tôi chỉ lạt lẽo nhếch cười...Cha đưa cho chị một ít tiền ngay trong bữa ăn cơm khi nhà đủ mặt, “tôi trả tiền hồi hôm...” rồi điềm nhiên phủi đít đủng đỉnh đứng lên, sự khinh miệt và đắc thắng no nê trong mắt”. Rõ ràng với cách thể hiện như vậy, người đọc chỉ có thể nhận xét rằng đó đích thị là đôi mắt của kẻ tàn nhẫn, bạc bẽo đến vô lương tâm.
Những tưởng người cha trong truyện sẽ càng ngày càng man rợ nhưng không ngờ với đôi mắt “ầng ậc nước... nhoè nhoẹt” khi chứng kiến con gái mình bị hãm hiếp mà ông không làm gì được đã trở thành dấu hiệu sự trở về của con người thật trong ông. Hình ảnh đôi mắt còn xuất hiện rất nhiều trong truyện của Nguyễn Ngọc Tư. Đó còn là đôi mắt bị bệnh chảy nước mắt sống của Điền. Đôi mắt cứ chảy nước mắt ròng ròng, đôi mắt bị tổn thương sau khi nhìn thấy những hình ảnh không đáng nhìn khi vừa thức giấc trong bồ lúa. Sau khi Điền bỏ đi theo “chị”, Nương vẫn nghĩ về đôi mắt ấy với một niềm khắc khoải khôn nguôi: “không biết nước mắt của nó đã khô chưa hay vẫn rỉ từng giọt như máu tươi”. Hình ảnh đôi mắt cứ chảy nước ròng ròng ảm ảnh từ đầu đến cuối câu chuyện đã thể hiện ý nghĩa nhân văn sâu sắc, Nguyễn Ngọc Tư đã cho ta thấy một tâm hồn bị tổn thương, yếu đuối. Con người ta có thể chai sạn với mưa nắng nhưng với những cú sốc tinh thần đặc biệt là cú sốc đầu đời thì rất khó để chữa lành. Cú sốc đó mãi còn để lại những di chứng về sau này.
Ngoài những nét chấm phá rất điển hình để miêu tả một khoảnh khắc trong cuộc đời nhân vật, Nguyễn Ngọc Tư còn miêu tả ngoại hình gắn với sự biến đổi theo năm tháng. Nhìn vào các nhân vật trong “Cánh đồng bất tận”, ta dễ dàng thấy đặc trưng riêng của từng nhân vật. Tuy nhiên toát nên từ tất cả, ai cũng mang trên mình đặc điểm chung, cái nét chung của người nông dân Nam Bộ cơ cực nghèo khổ. Những nét tính cách này càng được nổi bật rõ ràng hơn khi ta đặt những nét ngoại hình đó trong sự đối sánh với nhân vật ông trưởng ấp và ông cán bộ xã: “hai khuôn mặt bị nướng dưới ánh mặt trời, bóng nhẫy, tươm mỡ”, còn ánh mắt thì đó là: “ánh nhìn ham muốn như mũi kim thò ra khỏi bọc, lơ láo”. Chỉ cần hai nét cơ bản như vậy thôi người đọc dã có thể hình dung ra sự ứ thừa của những con người tham lam, ham hố.
Như vậy khi miêu tả ngoại hình, Nguyễn Ngọc Tư đã không sao chụp máy móc chân dung các nhân vật mà chỉ phác họa tái hiện lại bằng một vài nét thoáng qua có tính chất chấm phá. Song những nét chấm phá ấy lại có ý nghĩa lớn, nó đạt tới giá trị tạo hình, lại vừa có khả năng gắn rất cụ thể nhằm tái hiện một cách sinh động tính cách nhân vật cũng như đã góp phần nêu bật được quan niệm của nhà văn về con người thế giới.
4.3. Quan niệm nghệ thuật về con người qua cách xây dựng lời đối thoại của nhân vật
Nhân vật trong “Cánh đồng bất tận” đều là những người nông dân Nam Bộ nên trước hết ta thấy họ đều là những con người bình dị.. Cách diễn đạt của họ cũng rặt một kiểu Nam Bộ: “bảnh thiệt, cà lơ phất phơ”, “ dóc”... Họ là những con người chất phác, thường thì nghĩ sao nói vậy. Vậy nên khi tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người ta không thể bỏ qua những lời đối thoại của nhân vật. Qua lời đối thoại, ngoài thông tin thể hiện trong lời nhân vật đó ta còn dễ dàng hiểu được cách suy nghĩ và qua đó mà hiểu được tính cách nhân vật.
Nếu không phải là con người từng trải, sâu sắc, chu đáo và rất tình cảm thì sẽ không bao giờ thốt ra những câu nói đầy triết lí nhưng rất chân tình và thấm đẫm tình yêu thương như thế. Trong Cánh đồng bất tận để thể hiện tính cách tàn nhẫn của người cha và sự cam phận nhẫn nhục của nhân vật “chị”, Nguyễn Ngọc Tư đã xây dựng những đoạn đối thoại rất đặc sắc. Sau khi diễn tả sự hạnh phúc của chị khi quyến rũ được nhân vật cha qua đêm với mình trong bữa ăn, cha nói: “Tôi trả tiền hồi hôm…”.Chị nhét tiền vào trong áo ngực, cười “Trời ơi ba mấy cưng sộp quá chừng
Rồi một lần sau khi chị cố gắng để đàn vịt của ba cha con khỏi bị tiêu hủy, sáng sau gặp ở quầy vịt : “Sao, hồi tối có vui không?
Chắc họ tưởng cô là vợ tôi nên hứng thú lắm hả? Cứ để họ nghĩ vậy...”. Chị ngó trân trân vào cha, rồi day qua tôi, chị để rớt từng lời:
- Má cưng ác một, nhưng người cha này của cưng ác tới mười”
Qua đó ta thấy lời đối thoại cũng là một phương tiện nghệ thuật rất đắc dụng để nhà văn xây dựng lên tính cách nhân vật. Qua những lời thoại trong tập truyện, Nguyễn Ngọc Tư đã cho ta thấy được rõ nét hơn về lối sống, tính cách của các nhân vật trong truyện.
4.4. Quan niệm nghệ thuật về con người qua cách thể hiện nội tâm nhân vật.
Nội tâm là khái niệm chỉ toàn bộ những trạng thái, suy nghĩ, cảm xúc, cảm giác, nhưng phản ứng tâm lý của bản thân nhân vật trước cảnh ngộ và tình huống mà nhân vật chứng kiến trên bước đương đời của mình”. Yếu tố tâm lý thường được nhà văn xem là một đối tượng nghiên cứu trực tiếp của mình. Muốn khai sinh cho một nhân vật phải nắm bắt được tâm lý của nhân vật. Đây cũng chính là một thử thách đối với nhà văn bởi tâm lý của con người không đơn giản, khó nắm bắt. Mỗi người có một tính cách riêng, cách suy nghĩ riêng với những cảm nhận khác nhau về thế giới và con người. Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn có khả năng nhập thẳng vào nhân vật của mình. Qua nhân vật xưng “tôi” trong tác phẩm độc giả chẳng những lĩnh hội được câu chuyện mà còn thấu hiểu cả những trải nghiệm, suy tư, những cơn sóng tâm hồn của nhân vật kể chuyện. Có thể xem đó là những đoạn độc thoại nội tâm của nhân vật. Hình thức này cũng khiến cho dòng tâm tư nhân vật hiện lên “tươi rói” trên trang sách. Trong  truyện số lần nhân vật Nương, xưng “tôi” dừng lại tái hiện những tâm tư của mình lên tới 15 lần, mỗi lần một suy nghĩ, một trạng thái cảm xúc khác nhau. Trong dòng suy nghĩ triền miên của nhân vật “tôi” thì nỗi nhớ chính là những lớp sóng tâm trạng miên man, cồn cào và giằng xé trong tâm hồn “tôi”. Mỗi lần nhớ, mỗi lần thương, mỗi lần đau “tôi”thường bộc bạch, mổ xẻ suy nghĩ của chính mình. Bắt đầu từ nỗi nhớ má “suốt nhiều năm sau đó, tôi không dám nhớ má, bởi ngay khi vừa nghĩ đến má thì lập tức hình ảnh ấy lại hiện ra”. Không hề tức giận khi bị cha đánh đòn, “tôi” chỉ ngồi đó tìm ra nguyên nhân xuất phát những trận đòn đó: “Và tôi tự nhớ lại coi hồi sáng này, hồi trưa này mình đã làm gì giống má, kho cá bỏ quá nhiều tiêu? Hay vì tôi buộc tóc nhong nhỏng”; “Tôi cảm thấy mình thất vọng đến rã rời. Những thói quen, những cái gì liên quan đến má tôi phủi gần sạch rồi, nhưng làm sao tôi có thể bỏ được hình hài nầy”.
Rồi khi đứa em trai từ chối sự trưởng thành, ghê tởm những hoạt động sinh lí xác thịt Nương muốn giúp em mà không làm gì được bởi “Tôi muốn kêu lên, tiếc là sự thất học khiến tôi không thể diễn đạt bằng lời. Tôi không chắc chắn lắm nhưng tình dục và xác thịt không xấu xa, không đáng bị khinh bỉ, không phải là nguyên nhân đến cuộc sống nầy với những đổ vỡ nầy…”.
Sau này khi Điền đã bỏ đi theo chị mỗi khi qua những xóm kinh, Nương “thường ngóng lên bờ xem có được gặp chị với Điền không”. Những lúc đó Nương nghĩ: “không biết em tôi có đuổi kịp chị hay vẫn tiếp tục kiếm tìm. Không biết nó đã đánh thức được bản năng, đã tìm thấy nhục cảm, đã thèm muốn chưa. Không biết nước mắt của nó đã khô chưa hay vẫn rỉ từng giọt máu tươi”.
Đến đoạn người cha nhắc tới chuyện lấy chồng thì trong đầu Nương xuất hiện hàng chục câu hỏi tự vấn. Những suy nghĩ của Nương bật ra như lời đối thoại với chính độc giả, với trời, với đất và với chính bản thân mình: “Tôi biết lấy ai trong số đó? Lấy một người cắm mặt xuống đất, mệt nhừ với vườn ruộng để mỗi khi giáp hạt tôi nghe thấy tiếng cạo cơm cháy của con, tiếng muỗng dừa vét gạo dưới đáy mà rát bỏng trong lòng? Hay tôi sẽ chọn một người chăn vịt, mê mỏi với chuyến đi xa, sống hờ hững tạm bợ, thấp thỏm với rủi ro và đến một lúc nào, tôi ôm con nghe đêm của mùa gặt thật dài với tiếng rúc rích của người chồng già nua. Tôi lấy ai bây giờ, một người thợ gặt? Một anh chạy đò?” .Đến tận khi truyện đi đến đoạn kết thì Nương vẫn không ngừng bộc lộ những dòng suy nghĩ chảy tràn của mình: “Trời ơi, tại sao tôi không nhận ra điều đó ngay lúc ấy…”. Trong hoàn cảnh hết sức thương tâm đó Nương nghĩ: “Ước gì cha tôi hiểu để mà thanh thản”. Người đọc không thể ngờ được 17 tuổi mà Nương lại có những dòng suy nghĩ, những câu tự vấn sâu sắc đến thế về cuộc đời. Quá khứ, hiện tại, tương lai nó cứ đồng hiện, chất chứa thành một khối trĩu nặng với đầy đủ những sự day dứt cho quá khứ, dằn vặt về hiện tại, lo lắng cho tương lai. Sự trưởng thành, già dặn quá sớm của nhân vật chỉ có thể giải thích được bằng chính cuộc sống không người dạy dỗ, sống cuộc sống xa cách con nguời, không được sự quan tâm của cha cũng chẳng được sự chăm sóc của mẹ. Bao nhiêu sự trăn trở, lo âu về cuộc sống không biết giải bày cùng ai cho nên nhân vật luôn sống với những dòng suy nghĩ triền miên là điều tất yếu.
Khi gặp người đàn bà ở xóm Bàu Sen, lúc đầu cha “trút vẻ lầm lũi” vốn có. Sau đó khi đã rủ chị bỏ nhà, bỏ quê để theo cha thì vừa mới đi được một đoạn đường cha quăng chị lại “cười dữ dội,đau đớn, hoang dã, cay đắng, nghiệt ngã. Cái cười thật dài, riết lấy khuôn mặt cha, làm mắt cha hơi lồi ra, ánh lên như có nước”. Càng ngày cha càng “xanh xao, lạt lẽo, ngơ ngác và cô đơn”... Qua lời kể của đứa con gái, tâm lí người cha càng ngày càng ghê sợ “không còn một chút cảm xúc nào, nét mật tràn ngập những rắp tâm, chưa gặp mặt đã tính chuyện phũ phàng”. Nhưng sau tất cả những điều đó đứa con gái vẫn hiểu rằng bên trong tâm hồn cha là “một hố sâu thăm thẳm, bến bờ mịt mù, chơi vơi, dễ hụt chân”. Trong tác phẩm, ta còn thấy bi kịch của hai chị em Điền và Nương không đơn giản chỉ là vấn đề “miếng cơm manh áo” mà chính là sự đói khát về tình cảm của cha mẹ, của con người với con người trong cuộc sống. Trong tiềm thức của hai chị em Nương luôn là hình ảnh người mẹ trẻ đẹp một thời nhưng tất cả đều là mầm mống và dấu hiệu báo trước một sự chia lìa, xa cách do sự thiếu chung thủy của người mẹ ấy.  “Má ngó chúng tôi, hỏi: “Gì mà nhìn trân trân vậy hai đứa?”. Tôi nói,“Má lạ quá hà, nhìn không ra”. Má mừng quýnh, “Thiệt hả?”. Tôi muốn khóc quá chừng, má con xa lạ với nhau sao lại mừng?”. Và đúng như thế, mẹ của chúng cuối cùng do không chống lại nổi sự cám dỗ của người đàn ông có chiếc ghe bán đủ thứ đồ thực phẩm đã nhẫn tâm bỏ đi. Còn lại người cha, cứ ngỡ ông sẽ dành tất cả tình cảm của mình cho hai đứa con yêu thương để bù đắp sự trống vắng của người mẹ thì trái lại ông cư xử với chúng như những người dưng xa lạ. Vì thế, tuy sống với cha nhưng hai chị em Nương và Điền hầu như chỉ biết “giao tiếp” với… đàn vịt mà chúng chăn thả trên những Cánh đồng bất tận. Chúng thèm quay quắt một ánh nhìn trìu mến của cha mà lẽ ra đương nhiên chúng được quyền hưởng. Chúng thèm được nghe ông sai đi mua rượu, sai nướng vài con khô để ông vui thú với bạn bè. Thậm chí chúng còn thèm được nghe ông la hét, đánh mắng dù họ chẳng lầm lỗi gì. Nói tóm lại, họ khao khát được giao cảm, được trò chuyện giống như bầy vịt chăn thả trên đồng cần có lúa để ăn mà đẻ trứng. Họ thèm được “đối thoại” với cha mình dù đó là những lời nạt nộ, xa lạ như với người dưng nước lả. Những đoạn văn sau cho chúng ta thấy bi kịch trên của chị em Nương và Điền:
- “Trời ơi, trừ chị em tôi ra không ai thấy được đằng sau khuôn mặt chữ điền ngời ngợi đó là một hố sâu đen thẳm, bến bờ mờ mịt, chơi vơi, dễ hụt chân”.
- “Có lần, khi đi trên sông, thằng Điền giả đò té chìm nghỉm mất tăm, tôi giả đò kêu la chói lói, cha hơi giật mình hoảng hốt, dợm lao xuống nước, nhưng rồi cha điềm nhiên ngồi lại, tiếp tục gọt đẽo, chắc là nhớ thằng Điền đã lặn lội nước sông từ năm bốn tuổi, sức mấy mà chết trôi.”
- “Có lần, đi qua xóm, trong một buổi chiều, chúng tôi gặp những ông già ngồi chơi với cháu, thằng Điền đứng tần ngần bên hàng rào dâm bụt, bảo, “ phải chi ông nầy là ông nội mình hé Hai?” Nghe câu đó tôi bỗng thấy mình nghèo rơi nghèo rớt đến nỗi không có… ông nội để thương, thèm muốn bên đường.”
Trong tác phẩm còn một chi tiết làm cho người đọc không khỏi xúc động, đó là chi tiết cô bé Nương hay tìm đến con vịt mù trong đàn để trút hết những nỗi niềm tâm sự, mong tìm được sự cảm thông chia sẻ. Đây là một chi tiết đắt giá làm người đọc phải giật mình về mối quan hệ lỏng lẻo, xa lạ giữa người với người trong cuộc sống. Chúng ta thử nghĩ xem vì sao trong cuộc sống hiện đại con người ta lại cô đơn, bơ vơ và lạc lỏng đến như vậy? Đến đây có thể nói cái nghèo cái đói về vật chất, về miếng cơm manh áo đối với người nông dân bây giờ là chuyện rất… bình thường. Chỉ có cái nghèo, cái đói về mặt tình cảm, nỗi thiếu thốn về chữ tình, chữ nghĩa, sự giả dối trong đối xử giữa người với người mới là điều quá sức tưởng tượng của họ.
 Qua đây ta thấy Nguyễn Ngọc Tư đã khéo léo linh hoạt tìm ra những phương thức sát hợp nhất thể hiện sắc nét nhất dòng tâm trạng, cảm xúc, những suy tư, trăn trở... trong nội tâm của từng nhân vật. Nội tâm vốn là là yếu tố không dễ nắm bắt nhưng với tài năng, sự nhạy cảm và tấm lòng gắn bó sự chân thành của chính bản thân mình với tất cả mọi người, Nguyễn Ngọc Tư đã dễ dàng đột nhập, khám phá nội tâm từng nhân vật để người đọc hiểu, thông cảm và trân trọng những tất thảy con người đó. Qua việc đi sâu khám phá nội tâm của các nhân vật Nguyễn Ngọc Tư như thêm một lần nhắc nhở người đọc, giúp người đọc có thêm được một kinh nghiệm sống, mỗi người chúng ta nên có được một cái nhìn quân bình hơn trong cuộc sống này.
   
                              KẾT LUẬN CHUNG

Như vậy từ việc đặt nhân vật vào trong các tình huống có vấn đề, từ việc miêu tả ngoại hình, dựng lên những đoạn đối thoại và đặc biệt là việc khám phá đời sống nội tâm của nhân vật... Nguyễn Ngọc Tư đã xây dựng lại những hình tượng nhân vật của mình trong tính toàn vẹn nhất trước mắt người đọc. Thật vậy, từ thế giới nhân vật của mình, Nguyễn Ngọc Tư đã dễ dàng chuyển tải được toàn bộ những ý đồ nghệ thuật sâu xa của mình. Rõ ràng, những đoạn đã dẫn cho thấy nhà văn đã trần thuật lại câu chuyện bằng giọng điệu, nội tâm của nhân vật. Hình thức này khiến cho nhà văn có thể tái hiện tự nhiên dòng tâm tư của nhân vật mà còn khiến tác phẩm biến hóa, nhiều giọng điệu. Có thể nói, kế thừa truyền thống về quan niệm nghệ thuật về con người của các thế hệ đi trước, bằng sự trải nghiệm và sự sáng tạo của bản thân, Nguyễn Ngọc Tư đã đưa ra một “cái nhìn”, một cách “lí giải” về con người rất mới mẻ và độc đáo, đem đến cho người đọc một sự thích thú và ngày một yêu mến truyện ngắn của chị hơn. Đây chính là dấu ấn riêng trong “Cánh đồng bất tận”, góp phần làm nên phong cách truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư.


                              MỤC LỤC
                                                                                                           Trang
ĐẶT VẤN  ĐỀ ………………………………………………………………
1.Đôi nét về tác giả Nguyễn Ngọc Tư………………………………………..
 2. Tóm tắt truyện ngắn “Cánh đồng bất tận”………………………………...
3. Khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người ……………………………
3.1. Quan niệm nghệ thuật về con người là nguyên tắc lí giải, cảm
thụ của chủ thể………………………………………………………………...
3.2. Cơ sở lịch sử xã hội và văn hóa của quan niệm nghệ thuật về
con người ……………………………………………......................................
3.3 Ý nghĩa của quan niệm nghệ thuật về con người ………………………...
4. Những biểu hiện quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện
 ngắn “ Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư………………………
4.1. Đặt nhân vật trong các tình huống để các nhân vật tự bộc lộ bản           chất, tính cách của mình……………………………………………………
4.2. Quan niệm nghệ thuật về con người qua cách miêu tả ngoại hình
nhân vật………………………………………………………………..
 4.3.Quan niệm nghệ thuật về con người qua cách xây dựng lời đối
thoại  nhân vật.........................................................................................
4.4. Quan niệm nghệ thuật về con người qua cách thể hiện nội tâm
nhân vật......................................................................................................
KẾT LUẬN CHUNG…………………………………………………..
TÀI LIỆU THAM  KHẢO……………………………………




                          



                            TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.                  Nguyễn Thị Dư Khánh,Thi pháp học và mấy vấn đề giảng dạy văn học trong nhà trường, Nxb Giáo dục,2009.
2.                 Lê Bá Hán- Trần Đình Sử- Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn  học, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2010.
3.                  Đỗ Đức Hiểu- Nguyễn Huệ Chi- Trần Hữu Tá, Từ điển văn học bộ mới, Nxb Thế giới, 2004.
4.                 Nguyễn Thái Hòa, Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo dục,2000.
5.                 Trần Đình Sử, Giáo trình thi pháp học, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1993.
6.                 Trần Đình Sử, Một số vấn đề thi pháp học hiện đại, Bộ giáo dục và đào tạo- vụ giáo viên, Hà Nội, 1993.
7.                 Trần Đình Sử, Lý luận và phê bình văn học, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội,1996.
8.                 Nguyễn Ngọc Tư, Cánh đồng bất tận- những truyện hay và mới nhất, Nxb Trẻ, 2006.


























TƯ TƯỞNG NGHỆ THUẬT NHÀ VĂN

          Câu1: Căn cứ vào đâu và làm như thế nào để xác định được tư tưởng nghệ thuật của nhà văn?
          Như chúng ta đã biết, văn chương là loại sản phẩm tinh thần, một hình thái hoạt động văn hóa tư tưởng, đồng thời cũng là một loại hình nghệ thuật. Vì thế khi chúng ta đánh giá tầm cỡ một nhà văn thì phải căn cứ vào các tiêu chuẩn đánh giá sau:
          -Tư tưởng lớn, tâm hồn lớn.
-Tài năng lớn (tài năng nghệ thuật).
          - Có đóng góp đáng kể vào việc thúc đẩy tiến trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc.
          Ba tiêu chuẩn cũng là ba phương diện của giá trị một sự nghiệp văn học. Ba phương diện không hoàn toàn đồng nhất, nhưng không thể tách rời. Xét tương quan giữa ba phương diện ấy thì tư tưởng nhà văn, nếu hiểu là tư tưởng nghệ thuật, thì phải coi là có ý nghĩa quyết định, có tác dụng chi phối tất cả. Bởi vì khi nghiên cứu một nhà văn, xét đến cùng là chúng ta nghiên cứu tư tưởng của nhà văn đó và tầm cỡ của nhà văn xét đến cùng thì cũng phụ thuộc vào tầm cỡ tư tưởng của họ. Như vậy, chúng ta căn cứ vào đâu và làm như thế nào để xác định được tư tưởng nghệ thuật của  nhà  văn. Đó là vấn đề mà người viết muốn thể hiện trong bài viết này.
 Vậy tư tưởng nhà văn là gì? Đó là thứ tư tưởng có tính tổng hợp cao rút ra từ toàn bộ tác phẩm của nhà văn. Nói cách khác, đó là một tư tưởng bao trùm cả sự nghiệp sáng tác của nhà văn, chi phối về căn bản toàn bộ thế giới nghệ thuật của nhà văn đó. Nó tạo ra sự nghiệp ấy, cho thế giới nghệ thuật thống nhất, tính hệ thống, hay nói đúng hơn đó là tính chỉnh thể. Đây là chỗ gặp gỡ của nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học trên thế giới.
Còn theo nhà nghiên cứu, phê bình văn học Nguyễn Đăng Mạnh thì ông dùng khái niệm tư tưởng nghệ thuật cơ bản để gọi tên cho thứ tư tưởng tổng hợp này của nhà văn. Ông cho rằng tư tưởng nghệ thuật là một hình thái nhận thức đặc thù của người nghệ sĩ: nhận thức bằng “toàn bộ con người tinh thần với tất cả nọi dung phong phú và tính tổng thể toàn vẹn của nó”. Hình thức này này đòi hỏi nghệ sĩ phải huy động toàn bộ mọi năng lực tinh thần của mình mà nội dung chính là bao gồm lí trí và tình cảm, cảm xúc kết hợp hài hòa với nhau giống như xương cốt và máu thịt, như thể xác với linh hồn con người. Và tư tưởng nghệ thuật cần được hiểu như một hình thái tinh thần rất cụ thể, nó nảy sinh do sự cọ xát, va chạm một cách rất cụ thể giữa trí tuệ và tâm hồn người sáng tác với hiện thực khách quan. Và nó, ngay từ khi mới ra đời đã thể hiện ở một hình tượng, dù chỉ là một thứ hình tượng phác họa còn thô sơ và chưa thật sáng sủa, rõ nét trong tâm linh nhà văn. Và tư tưởng nghệ thuật nhà văn phải có sự cọ sát rất cụ thể giữa chủ thể và khách thể. Nếu không tiếp xúc, không lăn lộn thực tế, không có kinh nghiệm sống, người cầm bút không thể có được tư tưởng nghẹ thuật đúng nghĩa của nó, không sáng tạo được hình tượng văn học có giá trị nghệ thuật thật sự. Như vậy, tư tưởng nghệ thuật phải bao gồm hai mặt thống nhất đó là giữa chủ thể và khách thể nhưng xét đến cùng chủ thể đóng vai trò quyết định.
Có thể xem tư tưởng nghệ thuật là một trong những cái đích cuối cùng cơ bản nhất của của việc tìm hiểu một nhà văn. Và tư tưởng nghệ thuật không thể có sự tách rời giữa nội dung và hình thức văn học, giữa tư tưởng và tài năng nghệ sĩ. Đồng thời không thể có được một thứ tư tưởng nghệ thuật chung chung siêu cá thể bởi vì “tư tưởng nghệ thuật phải là riêng của mỗi nhà văn. Nó là chỗ phân biệt cơ bản giữa nhà văn này và nhà văn khác”.
Để khảo sát và tìm hiểu tư tưởng nghệ thuật của nhà văn chúng ta căn cứ vào “hình tượng nghệ thuật” bởi khi đã nói tư tưởng nghệ thuật thì chỉ có một cách biểu hiện duy nhất là hình tượng nghệ thuật. “Hình tượng nghệ thuật là căn cứ duy nhất để nhà nghiên cứu có thể tóm bắt được tư tưởng nghệ thuật của ông ta” (Nguyễn Đăng Mạnh). Có nhiều mối quan hệ khăng khít giữa tư tưởng nghệ thuật với toàn bộ đời sống tinh thần của người cầm bút nên nghiên cứu nghệ thuật của một nhà văn nên không thể bỏ qua mọi biểu hiện tư tưởng và tâm lí của nhà văn đó ngoài hoạt động sáng tác, ngoài tư cách nghệ sĩ… Đời sống tinh thần của con người ta nói chung là một hiện tượng hết sức phong phú, tinh vi, phức tạp và đầy bí ẩn. Chính vì thế mà ta thu thập các tư liệu về nhà văn là một công việc hết sức cần thiết. Chẳng hạn chúng ta biết được Xuân Diệu là con của vợ lẽ, từ nhỏ phải xa mẹ nên ông là một người rất nhạy cảm và rất dễ động lòng; Nam Cao ít nói, có tính “nhát người” nhưng uống rượu thì “đếch sợ cả Gorki”; Nguyên Hồng thì sinh hoạt quá dễ dãi thậm chí lam lũ và đặc biệt ông rất dễ khóc; Vũ Trọng Phụng là con người hết sức hiếu thảo và có tính sòng phẳng trong quan hệ bạn bè; Nguyễn Tuân thì chỉ thích nói ghét người này người khác mà ít thấy nói yêu ai, quý ai; Xuân Quỳnh có một cuộc đời bất hạnh từ nhỏ, chị vừa theo đuổi một tình yêu lí tưởng và khao khát hạnh phúc thiết thực đời thường…Tất cả những chi tiết tiểu sử và những thói tật tưởng như vụn vặt ấy nhưng thật ra rất bổ ích và thú vị để chúng ta phán đoán  về tư tưởng, tâm lí hay cá tính các nhà văn.
Tóm lại, căn cứ thật sự đáng tin cậy đối với mọi phán đoán về tư tưởng nghệ thuật của nhà văn vẫn chỉ có thể là những hình tượng nghệ thuật của nhà văn đó. Còn tất cả những tư liệu khác dù thú vị đến đâu thì chỉ để tham khảo thêm từ chính các hình tượng trong các tác phẩm của nhà văn. Hình tượng nghệ thuật bao giờ cũng được sáng tạo trong khuôn khổ một tác phẩm được viết theo một thể loại nào đó. Hình tượng có thể khảo sát ở nhiều cấp độ và bình diện khác nhau nhưng dù cấp nào, bình diện nào cũng chỉ có thể đánh giá đúng giá trị thẩm mĩ và ý nghĩa tư tưởng của nó. Theo ý kiến của giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh thì ông cho rằng trong thế giới nghệ thuật thường có một số hình tượng tâm huyết nhất, cứ trở đi trở lại nhiều lần như một “ám ảnh” đối với nhà văn. “Những hình tượng như thế càng có tính phổ biến bao nhiêu, càng có ý nghĩa tư tưởng sâu sắc và cơ bản bấy nhiêu”.
Khi tìm hiểu tư tưởng nghệ thuật cơ bản của một nhà văn có đòi hỏi phải một trình độ khái quát, tổng hợp, hệ thống hóa cao. Nếu khái quát không đầy đủ, không triệt để, sẽ dẫn đến những kết luận không chính xác. Và một yêu cầu đặt ra cho việc tìm hiểu tư tưởng nghệ thuật nhà văn là chúng ta phải kiểm tra lại độ chính xác của những kết luận của mình về tư tưởng, nghệ thuật của nhà văn bằng nhà văn cũng như mọi hoàn cảnh riêng chung như gia đình, xã hội, thời đại… có liên quan xa gần đến tư tưởng nghệ thuật của nhà văn. Có ba cách kiểm tra sau: nhiều cuộc khảo sát, dựa vào nhiều căn cứ khác nhau ở trong văn chương và ngoài văn chương, ở đặc điểm con người.
          -Một là bắt đầu từ sự khảo khảo sát chính những quan hệ nội tại của thế giới nghệ thuật nhà văn. Bởi vì thế giới nghệ thuật của nhà văn là một chỉnh thể, và đã là chỉnh thể thì thì phải có cấu trúc nội tại theo những nguyên tắc nội tại của nó.
-Hai là đối chiếu tư tưởng nghệ thuật của nhà văn với những biểu hiện tư tưởng ngoài sáng tác của ông ta. Con người là một hiện tượng rất phong phú và phức tạp. Đối với nhà văn, con người trong tác phẩm và con người ở ngoài đời không đồng nhất. Không đồng nhất không có nghĩa là không thống nhất. Vì vậy, sự đối chiếu tư tưởng nhà văn trong nghệ thuật và con người trong đời sống của nhà văn vẫn rất có ý nghĩa. Ở đây chúng ta không nên lấy những tư tưởng biểu hiện ở ngoài đời làm chuẩn vì đó là những căn cứ để soi sáng thêm và kiểm nghiệm thêm độ chính xác của những kết luận vào thế giới nghệ thuật của người nghệ sĩ.
-Ba là đối chiếu tư tưởng nghệ thuật của nhà văn với giả thuyết về nguồn gốc phát sinh tư tưởng ấy. Giả thuyết này xây dựng trên quan niệm ý thức của con người phản ánh tồn tại xã hội của nó, phản ánh điều kiện tồn tại khách quan của nó. Những điều kiện, hiện tượng này gọi là hoàn cảnh ra đời của một nhà văn, một hồn thơ. Đối với sự ra đời của một nhà văn, ta nên phân biệt hai loại hoàn cảnh khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau: Đó là hoàn cảnh lớn và hoàn cảnh nhỏ.
    .Hoàn cảnh lớn: là hoàn cảnh tác động đến cả một xã hội, cả một dân tộc, thậm chí cả nhân loại trong một thời kì lịch sử nhất định. Hoàn cảnh lớn quyết định tàm cỡ tư tưởng của nhà văn. Khi phân tích hoàn cảnh lớn phải quan tâm đến hoàn cảnh nhân văn, trình độ nhân văn của xã hội, của thời đại và những vấn đề có ý nghĩa nhân văn mà nó đặt ra trước người cầm bút. Khi tìm hiểu hoàn cảnh lớn tác động tới tư tưởng nghệ thuật của nhà văn, chúng ta cần chú ý đến một vấn đề đặc biệt quan trọng đó là bầu không khí tâm lí xã hội cụ thể trong đó nhà văn hít thở. Vì nội dung cơ bản nhất của tư tưởng nghệ thuật thuộc phạm trù tâm lí  như những tình cảm, cảm xúc, những ước mơ, những khát vọng,… Nhà văn suy tư, cảm nghĩ và sáng tạo trong bầu không khí tâm lí xã hội ấy và bị nó chi phối trực tiếp.
  .Nhưng khi giải thích tư tưởng nghệ thuật chúng ta không chỉ căn cứ vào hoàn cảnh lớn mà còn phải căn cứ vào hoàn cảnh nhỏ của nhà văn. Hoàn cảnh nhỏ có quan hệ trực tiếp đến đời sống cá nhân nhà văn, bao gồm hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh gia đình, quan hệ bè bạn, môi trường văn hóa, phong tục,… “Nếu hoàn cảnh lớn tác động đến chiều hướng chung và tầm cỡ chung của tư tưởng nghệ thuật nhà văn, thì hoàn cảnh nhỏ đem đến cho tư tưởng ấy nội dung và hình hài cụ thể”.
Như vậy để khảo sát và tìm hiểu tư tưởng nghệ thuật của nhà văn chúng ta căn cứ vào “hình tượng nghệ thuật” và đòi hỏi phải một trình độ khái quát, tổng hợp, hệ thống hóa cao. Bên cạnh đó chúng ta phải kiểm tra lại độ chính xác của những kết luận của mình về tư tưởng, nghệ thuật của nhà văn.

Câu2: Dẫn chứng về việc tìm hiểu tư tưởng nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân.
Nguyễn Tuân (1910- 1987) là nhà văn lớn, một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp. Ông đã tạo cho mình một thế giới nghệ thuật hết sức độc đáo.
Trước cách mạng tháng Tám, trong thế giới nghệ thuật của ông, có một nhân vật luôn luôn hiện diện ở trung tâm của hầu hết các tác phẩm của nhà văn chủ yếu được thể hiện trong tập truyện ngắn “Vang bóng một thời”. Nhân vật này thường xưng “tôi”, nhưng nhiều khi cung sắm những vai khác nhau: nhà nho bất đắc chí, đào nương, kép hát, văn sĩ, họa sĩ, bồi tàu, tướng cướp,…Nhưng dù dưới hình thức nào cũng đều tự khẳng định bằng thái độ ngông nghênh, khinh bạc. Chỗ dựa để nhân vật này có thể đặt mình lên trên thiên hạ là tài hoa hơn đời và cái gọi là “thiên lương” trong sạch, không chịu hoà mình vào môi trường tầm thường, phàm tục chỉ biết thờ phụng cường quyền phi nghĩa và đồng tiền. Con người này suốt đời săn tìm cái đẹp, không phải ở hiện tại mà và tương lai, mà ở quá khứ “vang bóng một thời”, với những phong tục xưa, những thú chơi tao nhã, những giá trị nghệ thuật cổ điển: nhắm rượu, uống trà, chơi lan, chơi cúc, đánh thơ, hát ả đào, chơi cờ tướng, chơi chữ đẹp, thú giang hồ lãng tử,…Các nhân vật này được thể hiện qua một số tác phẩm mà tác giả đã thành công một cách rực rỡ. Những chiếc ấm đất, Chén trà trong sương sớm, Hương cuội. Qua các tác phẩm trên Nguyễn Tuân ta biết thêm được cái thú uống trà của các cụ ta ngày xưa đó không phải là một cử chỉ ăn uống tầm thường mà là một hành vi đặc biệt, có lễ nghi và nhịp điệu rõ ràng. Và ở đây, Nguyễn Tuân có cảm tình với những người như cụ Sáu, ông Đốc học, sư cụ chùa Đồi Mai, cả “người ăn mày cổ quái” biết thưởng thức một chén trà trong sương sớm. Ông ca tụng cụ Kép làng Mọc “ nguyện đem cái quãng đời xế chiều của một nhà nho để phụng sự lũ hoa thơm cỏ quý”. “Mùa xuân cùng vài người bạn tri âm, tri kỉ ngồi thưởng hoa, uống rượu, ngâm thơ”. Còn ở Đánh thơThả thơ, Nguyễn Tuân diễn tả cảnh đánh bạc cũng được ham mê ráo riết, nhưng phủ ngoài một vẻ tao nhã, văn chương. Và nhất là ở “Đánh thơ”, những nhân vật được trình bày với những lời ăn tiếng nói riêng, với những suy xét theo hồi ấy. Sau cái chết sau cùng của đôi vợ chồng ông phó sứ Lăng và cô Mộng Liên, tác giả cho chúng ta thấy một sự thương cảm đôi vợ chồng lãng tử giang hồ này. Ngoài ra cũng trong “Vang bóng một thời” có hai truyện phải chú ý là “Chém treo ngành” và “Chữ người tử tù”. “ Chém treo ngành” nói về cái tài của tên đao phủ Bát Lê, chém đầu những người bị án trảm một cách gọn ghẽ, không đến hai nhát. Ngòi bút của Nguyễn Tuân tưởng như khách quan lạnh lùng, thật ra ý nhà văn để chỗ khác. Ông nói đến một “ quan Công sứ” một quan Đổng lí quân vụ và mười hai tên tử tù của “ loạn đảng Bãi Sậy”, nhưng người đọc tinh ý thấy Nguyễn Tuân đang nói đến những vụ hành hình những người yêu nước đầu thế kỉ XX. Nỗi đau buồn của  nhà văn bộc lộ ở đoạn ông tả Bát Lê tập chém chuối: “Mỗi buổi chiều mặt trời lặn, mấy con chim không tổ mỏi cánh định tìm vào vườn chuối âm u này để ngủ. Nhưng thân chuối cao vút và tàu lá chuối trống trải không đủ là nơi làm tổ, loài chim kêu mấy tiếng thưa thớt rồi bay qua ngọn thành. Vào tiết mưa ngâu, vườn chuối dầm dề một khúc nhạc suông nghe buồn thỉu buồn thiu”. Về lòng căm phẫn của mình thì ông không che giấu nữa trong đoạn kết thúc truyện : “ Lúc quan Công sứ ra về, khi lướt qua mười hai cái đầu lâu còn dính vào da cổ người chết quỳ, sân pháp trường sắp giải tán bỗng nổi lên một trận gió gió lốc xoáy rất mạnh. Thường những lúc xuất quân bất lợi, tưởng cơn lốc cuốn gãy ngọn cờ súy, cũng chỉ mạnh đến thế thôi. Trận gió xoắn, giật, hút cát bụi lên xoay vòng quanh đám tử thi và đuổi theo các quan đang ra về. cái mũ trắng ở trên đầu quan Công sứ bị cơn lốc dữ dội lật rơi xuống bãi cỏ lăn lốc lộn mấy vòng. Mọi người liếc trộm hai quan thủ hiến và thì thào …bấy giờ vào khoảng giữa giờ thân”.
Còn trong “Chữ người tử tù” thì bất cứ ai cũng biết tác giả nói đến ông Huấn Cao không ai khác là Cao Bá Quát, khi cầm đầu cuộc khởi nghĩa Mĩ Lương, đang giữ chức giáo thụ phủ Quốc Oai (Sơn Tây). Nhà văn không chú ý mấy đến bài viết chữ của ông Huấn mà ở đây ông đề cao phẩm cách hiếm có của ông Huấn Cao, bằng cách tả lòng trọng nghĩa liên tài của viên quản đốc đề lao: “Trong hoàn cảnh đề lao, người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc, thì tính cách dịu dàng, biết trọng người ngay của viên quan coi ngục này là một âm thanh trong trẻo chen vào giữa một bản nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ”, cũng như qua những ý nghĩa thầm lặng của viên ngục quan ấy: “Một kẻ biết yêu mến khí phách, một kẻ biết quý trọng người có tài hẳn không phải là kẻ xấu hay vô tình. Ta muốn biệt đãi ông Huấn Cao, ta muốn ông ta đỡ cực trong những ngày cuối cùng”. Và đặc biệt qua lời khuyên của ông Huấn đối với viên quản ngục: “Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy quản nên thay đổi chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng trẻo với những nét chữ vuông vắn, tươi tắn nó nói lên những hoài bão tung hoành của đời con người…Tôi bảo thực đấy: thầy nên tìm về nhà quê mà ở đã, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ, ở đây khó giữ được thiên lương cho lành vững, và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi”. Chính những câu văn đó đã chứng tỏ “thiên lương” của nhà văn, lòng yêu nước khát khao theo đuổi một lý tưởng cao cả của nhà văn.      
Nguyễn  Tuân đã làm sống lại cái không khí cổ xưa đó cũng một phần hoàn cảnh gia đình của Nguyễn Tuân có một đặc điểm. Gia đình cụ tú Nguyễn An Lan, thân sinh Nguyễn Tuân, là cả một môi trường “Vang bóng một thời”. Từ nhỏ nhà văn sống trong không khí của môi trường ấy với những tiệc rượu, tiệc trà đầy nghi lễ của một lớp người dường như còn sót lại của thời đại trước. Cụ Tú Lan cũng là người đã truyền cho người con trai cả của mình dòng máu “ngông” của một nhà nho bất đắc chí…Ta có thể hiểu được tư tưởng nghệ thuật Nguyễn Tuân là nhờ đã đặt nó trong quan hệ với môi trường rất riêng của nhà văn.
Như vậy tư tưởng nghệ thuật cơ bản của Nguyễn Tuân trước cách mạng tháng Tám có thể khẳng định là một tinh thần yêu nước thiết tha bộc lộ ở thái độ bất hòa, bất mãn với xã hội thực dân, ở chỗ ngợi ca vẻ đẹp tinh vi độc đáo và đầy tự hào của những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc.
Cuộc cách mạng tháng Tám đã làm thức dậy trong lòng Nguyễn Tuân niềm tin yêu đối với cuộc sống, đối với con người, “một tiếng chó sủa khách, một câu ru con láng giềng, những tiếng coong coong xe ngựa đài tải trong sương chiều. đời sống thật là muôn vẻ…Nguyễn thấy cái gì cũng thú vị cả, miễn là nó ở chung quanh mình, nó ở trong cuộc đời mà ta nhìn được, nghe được, sờ mó được”. Điều này được thể hiện cụ thể ở một số tác phẩm sau cách mạng như tùy bút Đường vui, Tình chiến dịch, Sông Đà hay tập bút kí Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi…
Tùy bút “Đường vui” là bài ca của một con người mang tâm trạng háo hức, tươi vui, tin tưởng đi vào cuộc kháng chiến. chất nghệ sĩ, chất lãng mạn, “chất công dân” trong con người ông đã tạo nên những trang viết thật hồn nhiên, thật xúc động. “Bạn ơi ta leo dốc cho chắc bước cho đều  bước , ta xuống dốc cho ròn cho dẻo. Rừng mai, rừng trúc, chậm lại mà thấm lấy phong quang của cảnh sắc quê hương. Chỗ nào là núi đất rừng nứa, ta nhanh bước lên muỗi vắt nhiều lắm đấy. Suối trong mời ta và giặt phơi luôn quần áo trên những tảng đá của tranh thủy mặc Tàu. Rồi vừa đi vừa phơi luôn quần áo trên lưng mình trên đầu mình, ta hãy dành một phút mà mặc niệm người thợ giặt cũ”.
“Tình chiến dịch” là sự tiếp nối âm hưởng sôi động của cuộc kháng chiến được bắt đầu từ tùy bút “Đường vui”. Tuy ông không trực tiếp tham gia vào cá trận đánh, nhưng ông theo sát bộ đội trong các cuộc hành quân, cũng sống ở chiến khu, cũng vào đồn địch, cũng làm công tác dân vận..Nguyễn Tuân thật sự tâm huyết và có sự đồng cảm với nhân dân và bộ đội trong cuộc kháng chiếng chống thực dân Pháp đầy gian khổ. Ngòi bút của Nguyễn Tuân đầy trách nhiệm và tình người.
Nguyễn Tuân là người say đi, say khám phá và sáng tạo. Gần như không có nơi nào trên đất nước là ông chưa từng đặt chân đến. Nhiệt tình cách mạng, tình cảm tha thiết đối với quê hương, đất nước cùng với sự hiểu biết phong phú về cảnh sắc và con người đã giúp Nguyễn Tuân viết nên những thiên tùy bút thật đặc sắc, có sức lay động lòng người. “Sông Đà” là kết quả của cuộc đấu tranh tư tưởng và chuyến đi Tây Bắc của Nguyễn Tuân. Vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Tây Bắc dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân đã hiện lên rực rỡ với muôn sắc màu. Viết về cái đẹp vốn là sở trường và niềm say mê của ông. Vì thế mà con sông Đà hiện lên thật nên thơ và gợi cảm dưới ngòi bút của ông: “Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc, ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Con sông Đà được Nguyễn Tuân thể hiện bằng những đoạn văn giàu nhạc điệu và rất trữ tình: “ Cảnh ven sông ở đây lặng như tờ. Hình như từ đời Lí , đời Trần, đời Lê, quãng sông này cũng lặng lờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ tranh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ tranh đẫm sương đêm… bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”. Và có rất nhiều những trang văn giàu âm điệu, giàu màu sắc khi tác giả nói về vẻ đẹp của con người sông Đà. Nhưng cái tạo nên một phong cách mới, một sự thay đổi về chất trong con người Nguyễn Tuân chính là cái vẻ đẹp thiên nhiên đó đã được gắn kết với vẻ đẹp trong tâm hồn con người. Nguyễn Tuân “đi tìm cái thứ vàng của màu sắc sông núi Tây Bắc”, nhưng quan trọng hơn là ông muốn đi tìm “cái túi vàng mười mang sẵn trong tâm trí tất cả những con người này đang nhiệt tình gắn bó với công cuộc xây dựng cho Tây Bắc thêm sáng sủa tươi vui và vững bền”.
“Sông Đà” mang đậm cảm hứng lãng mạn cách mạng, nó đánh dấu sự kế thừa và phát triển của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân, nó khẳng định độ chín muồi của ngòi bút Nguyễn Tuân sau cách mạng.
Trong những ngày Hà Nội đánh Mĩ, ông cũng có ngay tập ký “Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi” nói về ý chí và lòng dũng cảm của bộ đội, nhân dân thủ đô, đồng thời vạch trần âm mưu và những thủ đoạn đê tiện, bỉ ổi của bọn giặc Mĩ. Phải là người hiểu thấu và yêu Hà Nội tha thiết, Nguyễn Tuân có được những trang viết về người Hà Nội đánh Mĩ. Người Hà Nội mưu trí, dũng cảm trong chiến đấu song vẫn  giữ được nét tài hoa, tài tử của mình. Trong bom rơi, đạn nổ, phong thái của người Hà Nội vẫn ung dung tự tại, đầy lạc quan, tin tưởng vào sự tất thắng của chính nghĩa. Bài ký này không chỉ đóng góp đáng kể của Nguyễn Tuân về nội dung tư tưởng mà còn ở giá trị nghệ thuật. Nó là sự phản ánh nhiệt tình yêu nước, lòng căm thù giặc của tác giả và sức mạnh của thể ký trong việc diễn tả dung lượng lớn lao của dân tộc.
Qua việc tìm hiểu tư tưởng nghệ thuật Nguyễn Tuân ta có thể thấy rằng những sáng tác trước cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân luôn thể hiện là một nghệ sĩ tài tử, ngông nghênh, kiêu bạc với cuộc đời. Bất mãn với xã hội, một mặt ông đi tìm những vẻ đẹp thuần túy trong thiên nhiên, xã hội, mặt khác quay lưng với thực tại, trở về với quá khứ, với những vẻ đẹp “ vang bóng một thời”, hay tiêu phí cuộc đời trong bê tha trụy lạc…Tất cả những phản ứng đó đều  mang ý nghĩa tiêu cực nhưng trong đó cũng chứa đựng hạt nhân tích cực, đó là sự bất hợp tác của Nguyễn Tuân đối với chế độ thực dân nửa phong kiến. Cách mạng tháng Tám đã mở ra một chân trời mới cho sáng tạo nghệ thuật. Nguyễn Tuân nhanh chóng hòa mình cùng với nhân dân, với dân tộc, lúc bấy giờ cái tôi cá nhân của Nguyễn Tuân đã hòa vào cùng một nhịp với cái của dân tộc.







TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.     Nguyễn Đăng Mạnh, Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Nxb giáo dục.
2.     Nguyễn Đăng Mạnh, Nhà văn Việt Nam hiện đại - Chân dung và phong cách, Nxb văn học, 2006.
3.     Tôn Thảo Miên tuyển chọn và giới thiệu Nguyễn Tuân về tác giả và tác phẩm, Nxb giáo dục, 2001.






























Chủ Nhật, 10 tháng 3, 2013

HƯƠNG VỊ CUỘC SỐNG


HƯƠNG VỊ CUỘC SỐNG
Thiên thần nhỏ của tôi! Đã khi nào em tự hỏi mình, tại sao mật ong ngọt, còn mật gấu lại đắng, dù rằng gấu là loài rất thích mật ong? Đã khi nào em tự hỏi tại sao sôcôla lại mang cả vị ngọt và vị đắng dù rằng những người đang yêu rất thích tặng nó vào những dịp đặc biệt?
Khi em được điểm tốt, được thầy cô khen, bạn bè ngưỡng mộ, em cảm thấy vị ngọt trong tim.
Khi em mắc một sai lầm tệ hại đó khiến em bị chỉ trích rất nhiều, em cảm nhận vị đắng lẫn trong hai hàng lệ.
Thế nhưng khi em dám dũng cảm đứng ra lên án những hành vi không tốt của bạn bè, có thể em bị ghét bỏ, thù hằn, nhưng em cảm thấy mình đã làm đúng, và mình không hổ thẹn với lương tâm. Trong vị đắng của tình bạn bị sứt mẻ, em tìm thấy vị ngọt của sự trung thực, thẳng thắn.
Chắc em đã từng gặp những con người sống trên tiền tài, vật chất và bị che mắt bởi bóng ma danh vọng, quyền lực,…Với họ, tất cả những điều đó có thể là vị ngọt ngào giả dối được tạo ra để che đậy cái xấu xa, vị đắng chát của một cuộc đời nhỏ mọn, ích kỉ, dám làm điều tội lỗi để thỏa mãn nhu cầu, lợi ích cá nhân.
Và trong cuộc sống hằng ngày, có thể em vẫn thường gặp những con người lang thang, không nơi nương tựa. Với họ, vị đắng là cuộc sống khắc nghiệt, khó khăn, đặc biệt là trong những ngày mưa phùn giá rét. Nhưng chỉ một đồng xu lẻ, một chiếc bánh mì, một tấm chăn nhỏ,…của những người hảo tâm, với họ cũng có giá trị ngang với một gia tài, bởi đó là vị ngọt của lòng nhân ái, của sự quan tâm chia sẻ.
Em thấy đấy, cuộc sống này biết bao nhiêu điều để nói, để suy nghĩ và cảm nhận. Cuộc sống này biết có bao nhiêu điều để nói, để suy nghĩa và cảm nhận. Cuộc sống sẽ còn rất nhiều khoảnh khắc ngọt ngào bên cạnh những phút giây cay đắng. Nhưng có khổ cực, đắng cai mới cảm thấy hết được ý nghĩa của sự thành công và vị ngọt của niềm hạnh phúc.
Và điều đó góp phần làm nên giá trị của cuộc đời mà chúng ta đang có may mắn lớn lao được là một phần trong đó, phải không nào?
(Sưu tầm)

Thứ Năm, 7 tháng 3, 2013

NHÂN TRƯỜNG HỢP CHỊ THỎ BÔNG


NHÂN TRƯỜNG HỢP CHỊ THỎ BÔNG
Tác giả : Thảo Hảo (Phan Thị Vàng Anh)
Bạn tôi, vợ về quê thăm mẹ. Anh ở nhà, vào đúng ngày chủ nhật, thì buồn. Alô cho một người bạn, và cả hai đi mát-xa. Cô gái làm mát-xa cho anh rất xinh, mặt tỉnh bơ, vừa làm vừa kể chuyện cười. Cô kể chuyện chị thỏ bông đi lạc
Chị thỏ bông có chồng là anh thỏ bông. Một hôm chị thỏ bông đi vào rừng tìm cà rốt. Lúc quay trở ra thì bị lạc. Chị đi một đoạn thì gặp anh thỏ trắng. Chị hỏi, đường về nhà tôi là đường nào. Anh thỏ trắng bảo, 'muốn biết thì ở lại đây đêm nay'. Chị thỏ bông đành ở lại.

Ngày hôm sau, chị đi tiếp, mãi vẫn không thấy đường. Chị nhìn thấy anh thỏ nâu. Chị hỏi, đường về nhà tôi là đường nào. Anh thỏ nâu nói, 'muốn biết thì ở lại đây đêm nay'. Chị thỏ bông cắn răng ở lại đấy một đêm.

Hôm sau nữa, chị đi tiếp. Vẫn lạc đường. Lần này thì gặp anh thỏ đen. Chị đến hỏi, đường về nhà tôi là đường nào. Anh thỏ đen cũng nói, 'muốn biết thì ở lại đây đêm nay'. Chị thỏ đen tặc lưỡi ở lại.

Sáng hôm sau, chị tỉnh dậy, và lên đường. Ði được một đoạn thì thấy nhà, với anh thỏ bông đang đánh răng trước cửa. Chị về nhà được hai hôm thì biết mình có mang. 

Cô mát-xa đố: "Em đố anh, con của chị thỏ bông sẽ có màu gì?"

Bạn tôi đoán, cà phê sữa bông, khoang đen bông..., mãi cũng sai, đành hỏi cô.

Cô bảo: "Muốn biết thì ở lại đây đêm nay".

Ðương nhiên là bạn tôi không phải thỏ bông nên không ở lại. Chỉ cười khà khà, tí sau rút ví ra, cho tiền boa, và về kể tôi nghe, tấm tắc khen mãi cô gái massage tinh ranh làm anh buồn cười - cái việc mà cả mấy năm nay vợ anh không làm được.
Thưa chị em phụ nữ, 
Không làm chồng cười được là một cái tội rất to. Nó khiến cho chồng các chị phải đi tìm nụ cười ở những nơi khác. Và đó là một cái quyền của đàn ông.

Cái này không phải là mình tôi nghĩ ra và phát ngôn. Mà điều này, báo (dành cho phụ nữ) nào cũng có nói. "Khi anh ấy có người khác, bạn hãy xem lại mình." Nghe như một châm ngôn.

Bởi vì các chị không biết kể chuyện chị thỏ bông, cho nên các anh phải đi nghe người khác kể lại câu chuyện ấy.

Bởi vì các chị không biết mát-xa, cho nên các chị không thể cấm các anh đi mát-xa.

Bởi vì các chị không biết quá nhiều thứ nên các anh phải đi lấy kiến thức từ nơi khác.

Bởi vì các chị biết quá nhiều thứ nên các anh sẽ đi phổ biến kiến thức cho nơi khác.

Bởi vì các chị quá hiền,

Bởi vì các chị quá dữ,

Bởi vì các chị quá ngăn nắp,

Bởi vì các chị quá bừa bộn...

Kiểu gì, như báo đã nói, cũng là lỗi của các chị thôi.

Và báo (có lẽ đã ăn hối lộ của đàn ông) mà đề cao quá sức cái công dung ngôn hạnh, gần như đặt hẳn các chị lên bàn thờ, khiến các chị không leo xuống được để đấu tranh bình đẳng với đàn ông, cho nên các chị đành ở đó mà vui vầy với bếp núc cùng con cái.

Trong khi đó,

Thưa các chị,

Một món quà nhân ngày phụ nữ mà tôi muốn tặng cho các chị, dù mở ra các chị có thể nhăn mặt, thấy vô đạo đức, gói lại không nhận, là phần phân tích sau vụ việc chị thỏ bông vừa qua để các chị biết thực lực các chị đến đâu:

1. Các chị dễ rơi vào tình huống "chị thỏ bông" hơn các anh 

Có lẽ, chẳng ai nói cho chồng các chị biết rằng: phụ nữ có khả năng sa ngã hơn đàn ông rất nhiều. Lại không phải kiểu sa ngã ăn-bánh-trả-tiền-một-lần-rồi-quên như đàn ông, mà đây là sa ngã tinh thần, thương thương nhớ nhớ mà chồng các chị có biết thì chỉ có nát tim gan. Không báo nào răn đe người đàn ông rằng nếu anh cứ để bụng bia đi lại nghênh ngang trong nhà mà quăng quật vợ, thì vợ anh, tuy cúi mặt hiền thục nấu ăn trong bếp cho anh đó, nhưng tâm trí là hướng về người khác rồi; như một nơi an ủi, như một chốn yêu thương; chỉ rất may cho anh, rằng chị đã ở cái thế "bàn thờ" của phụ nữ Á đông, nên ít khi để cho mọi việc đến nơi đến chốn, chứ còn không thì...

2. Luôn có những người khác mà chị không biết 

Chị thỏ bông chỉ cần đi ra đường cũng đã thấy muôn sắc thỏ đón chào mình. Anh thỏ bông có thể thấy vợ là nhàm, nhưng những anh thỏ khác thì không thế.

Các chị cũng thế, để ra một ngày nhìn quanh mình đi, rồi các chị sẽ thấy, nếu các chị bật đèn xanh, sẽ có vài người đàn ông mong được các chị cười với họ một cái, hay ăn một bữa cơm của các chị nấu, hay được các chị xoa đầu.

Lâu nay các chị vẫn được giáo dục trở thành một bông hồng duy nhất cho một người duy nhất. Ðó hình như là chiến lược của cánh đàn ông. Ðàn ông không nói với các chị rằng, nếu càng nhiều người ngắm, thì họ càng quý bông hồng của mình. Không đời nào họ nói như thế. Họ chỉ muốn an toàn, nên cố hướng dẫn các chị nở mãi một cách, tỏa hương mãi một loại; loại nào, cách nào công dung ngôn hạnh tiết liệt nhất. Thế rồi sau đó, khi đã đúc được chị thành bông hoa nhựa rồi, họ lại chỉ muốn tìm đến những bông hoa dại biết kể chuyện thỏ bông.
Thường bao giờ họ cũng bắt các chị lựa chọn: hoặc là hoa dại và không có anh ấy, hoặc là thành hoa nhựa và có anh ấy; các chị sẽ chọn ngay con đường hoa nhựa.

Các chị không biết, rằng nếu các chị cứng đầu làm hoa dại, thì các chị sẽ không mất gì cả, mà còn kích thích người ta giữ các chị lại hơn.

3. Gia đình còn hay mất là do đạo đức các chị 

Chị thỏ bông có cái khả năng đi ba đêm về mà anh thỏ bông vẫn không biết, và trên đường có rất nhiều anh thỏ đen, nâu, trắng sẵn sàng rủ chị phiêu lưu. Cái gia đình thỏ bông thật ra còn hay mất là do chị, do đạo đức của chị đến đâu. Chị thỏ bông hoàn toàn có thể tạo ra những vụ việc đi lạc lần nữa để phiêu lưu mà chẳng mất gì. Nhưng trời phú cho chị thỏ bông (cũng như cho các chị em phụ nữ) cái khả năng nghĩ về đạo đức rất mạnh, cho nên anh thỏ bông mới còn vợ cùng nhai cà rốt với mình.

**

Tóm lại:

Sau vụ việc chị thỏ bông này, hẳn các anh đã thấy mình cũng cần cảnh giác mà giữ vợ?
Bởi vì con đường hư hỏng của phụ nữ không cần mất công như các anh đâu. Theo một thống kê mật, những lời đề nghị của phụ nữ được chấp nhận tới 8/10, trong khi đàn ông chỉ có 1.5/10 mà thôi.
Bình đẳng với phụ nữ là cho họ biết vũ khí mà họ có, và để họ tùy nghi xử dụng sau khi đã cân nhắc được mất.

Hôm nay, nhân vụ chị thỏ bông, tôi lấy lại chút bình đẳng cho các chị. Còn bây giờ, tôi phải đi. Có người đang đợi tôi để hỏi: muốn làm hoa dại hay hoa nhựa.

Tôi nghĩ kỹ rồi. Tôi chỉ hung hăng thế thôi. Ðể không mất anh ấy, tôi sẽ làm hoa nhựa.
Bình loạn : đọc xong mới thấy tác giả dương đông kích tây, có khi mình trúng đòn mà mình không hay nhỉ http://huyenkhonglyso.com/images/smilies/yahoo11/15.gif
__________________
Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu
Thoại bất đầu cơ bán cú đa

Thứ Tư, 6 tháng 3, 2013

Bài thơ "Thu điếu"


THU ĐIẾU
Làng cảnh Việt Nam lúc đất trời vào thu đẹp một vẻ đẹp thanh sơ, bình dị mà thật nên thơ, nhưng không  mấy ai đưa được vẻ đẹp ấy vào thơ một cách thân tình như Nguyễn Khuyến. Cũng chẳng mấy ai nói được tình cảm bình dị mà lắng sâu của con người Việt Nam với làng xóm quê hương như ông. Nhắc đến Nguyễn Khuyến, người yêu thơ không quên được chùm thơ của ông viết về mùa thu như một chùm hoa đẹp có hương sắc lâu bền, trong đó bài Câu cá mùa thu được coi là một trong những bài thơ hay nhất của Nguyễn Khuyến. Bài thơ có sự hòa hợp giữa cảnh thiên nhiên thanh sơ của nông thôn êm đềm, vắng lặng vào tiết thu  với tâm trạng thời thế kín đáo của thi sĩ
Nhan đề bài thơ là Câu cá mùa thu nhưng mục đích  không ở việc kiếm cá ăn; câu cá chỉ là cái cớ để tiêu sầu và cảm nhận hương sắc mùa thu. Còn gì thú vị hơn được ngồi câu cá giữa một  vùng phong cảnh quen thuộc của quê hương mình, để hồn thu thấm vào hồn người. Lúc Nguyên Khuyến viết bài thơ này, gót giày quân xâm lược Pháp đã đặt lên nhiều nơi trên đất nước, xã hội thuộc địa đã được lập nên ở vài đô thị. Nhưng làng quê Việt Nam, làng quê nghìn đời của Nguyễn Khuyến vẫn giữ được vẻ đẹp thanh sạch, giản dị, duyên dáng như cô gái chân quê xứ Bắc với “ cái áo tứ thân, cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen”. Nguyễn Khuyến đi câu cá là để tắm mình trong không khí nguyên sơ ấy của mùa thu quê hương cho khuây khỏa nỗi thương đau trong lòng.
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Bài thơ mở ra thời gian và không gian nghệ thuật đầy thi vị, đầy ắp không khí làng cảnh vùng đồng bằng Bắc Bộ. Vì đi câu cá nên điểm xuất phát của cảm hứng là chiếc “ao thu”. Ao là một hình ảnh thân quen, thân mật, bình dị ở làng quê xứ Bắc. Nguyễn Khuyến chọn ao thu để khơi nguồn thi hứng, vì đó là điệu tâm hồn ông: thân mật, chân thành, bình dị, vô cùng gắn bó với làng quê. Chiếc  ao thu trong tấm lòng yêu thương và rung cảm thẩm mĩ của Nguyễn Khuyến đẹp và gợi cảm hứng như một tác phẩm mĩ thuật. Chiếc ao thu ấy “ lạnh lẽo” một cách đầy chất thơ. Gió thu đã mang theo heo may về và ban phát cho vạn vật của mùa thu để cho nó đáng yêu hơn. Từ cái nóng oi khó chịu của mùa hè chuyển sang cái se lạnh của heo may mới thật là thi vị. Đã vắng những cơn mưa rào xối xả của mùa hạ, nước trong ao thu thấm cái lạnh lẽo của heo may mà lắng trong đến độ như được chọn lọc, trong vắt “ trong veo” đến tận đáy. Bên trong cái tiếng “ trong veo” đặt ở cuối câu thơ như có niềm rung cảm thích thú. Trời hôm ấy lặng gió và rất nhiều nắng, rất sáng, nước trong ao mới có độ “ trong veo” như thế. Mới chỉ nói nước thu (thu thủy) mà ta đã thấy trời thu, nắng thu, gió thu. Độ hàm súc, sự tinh tế trong cách dùng từ của Nguyễn Khuyến cũng thật đáng nể. Trước mắt người đọc là một khoảng không gian mùa thu trong sáng và tĩnh lặng vô cùng.
Hiện lên trên khuôn “ ao thu”, giữa không kí thu “ lạnh lẽo” ấy là “ Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”. Người đi câu không ngồi trên bờ mà ngồi trên chiếc  thuyền câu để buông câu chính là để mở góc nhìn không gian thu cho rộng ra. Ao thu chắc không thể to lắm, cho nên chiếc thuyền câu cũng phải “ bé tẻo teo”. Đó chính là chiếc thuyền thúng quen thuộc ở vùng quê Bình Lục, chiếc thuyền chỉ vừa đủ cho một người ngồi, vừa đủ để gọi là “ thuyền”, nhỏ hơn chút nữa thì thành cái thúng! Cách đây non một thế lỉ người ta thấy rất nhiều chiếc thuyền thúng như thế len lỏi giữa xóm làng của Hà Nam, nước lụt mênh mang “ Bóng thuyền thấp thoáng vừa trên vách - Tiếng sóng long lanh vỗ trước nhà” ( Nguyễn Khuyến, Vịnh lụt).
Ngồi trên chiếc thuyền giữa ao thu nên nhiều vẻ đep của mùa thu dễ đến trong tầm nhìn của thi sĩ.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo
Hai câu thực là cảnh trong tầm nhìn gần ( cận cảnh). Trong ao nhỏ có sóng, có gió nhưng rất nhỏ, rất nhẹ và và rất đẹp. “Sóng biếc” nghĩa là “sóng xanh”; sóng theo gió nhẹ chỉ “ hơi gợn” trên mặt ao thành hình, “lá vàng” cũng theo gió “ khẽ đưa” thành tiếng. Cả hình và tiếng đều cực nhỏ. Cuối hai câu thơ, nổi lên hai từ đối nhau: “ ”, “ vèo”- một từ nói lên cái cực nhỏ của hình  khối, một từ diễn tả sự cực nhỏ của âm thanh, người đọc còn nhận dạng được chiếc lá với hình dài thon nhọn, nhẹ và nhỏ: chiếc lá tre, lá trúc đang xoay xoay mà liệng xuống. Không gian động mà tĩnh, hữu thanh mà vô thanh. Những làn sóng hơi gợn, âm thanh mơ hồ của chiếc lá vàng “khẽ đưa vèo” như xao động trong cõi lòng cũng tĩnh lặng như làng quê, mùa thu của thi sĩ.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
Không gian nghệ thuật đột ngột mở lên chiều cao và mở ra hướng trước mặt. Trên cao là trời thu cao xanh, trước mặt là đường làng ngõ xóm mùa thu quanh co, vắng vẻ. Trong cảm nhận của Nguyễn Khuyến, da trời mùa thu có màu “ xanh ngắt” rất khơi gợi, cái màu xanh liền một khối tinh khiết, thăm thẳm, khiến cho những ai ngẩng mặt lên ngắm trời thu đềucó cảm giác mông lung, huyền ảo, vời vợi. Nhờ có “ tầng mây lơ lửng” bên dưới mà nhận ra “ trời xanh ngắt” bên trên. Đó là một nét quen thuộc thi pháp cổ điển: lấy điểm tả diện.
Đang vào vụ thu, người ra đồng làm lụng nên đường làng ngõ xóm vắng lặng. Thảng hoặc có người thì cũng bị cái quanh co của ngõ trúc che khuất. Thành thử không gian vắng lặng đên tuyệt đối: “vắng teo”!
Ở hai cặp câu thực và luận có đủ sóng gió, trời, mây, có màu sắc, âm thanh, hình ảnh, có chuyển động, …Nhưng mỗi từ ngữ trong bốn dòng thơ ấy đều gợi cho ta phải đọc bằng giọng êm dịu, nhẹ nhẹ. Âm hưởng bốn dòng thơ nhẹ êm như hơi thở.
Tựa gối ôm cần lâu chẳng được
Cá dâu đớp động dưới chân bèo
Đến đây chủ thể trữ tình mới xuất hiện, xuất hiện trong tư thế ngồi bất động “ tựa gối ôm cần” - tư thế co lại, như thu nhỏ mình lại để giảm bớt diện tích tỏa nhiệt tránh cái” lạnh lẽo” giữa ao thu. Ngồi như thế cũng là để ngồi cho lâu, cho khỏi phải thay đổi tư thế làm mất đi cái tĩnh lặng trong cõi lòng đang mải suy tư và khỏi đứt đi “dây tơ” vô hình đang giăng mắc trong không gian mùa thu làng quê êm đềm, bởi vì “ Không gian như có dây tơ - Bước đi sẽ dứt, động hờ sẽ tiêu” ( Xuân Diệu). Nguyễn Khuyến muốn ngồi trong tĩnh lặng mà trầm tư mặc tưởng, gắn cái cô đơn trống trải của lòng mình vào cái cô tịch, trong trẻo của mùa thu làng quê. Thực ra khi lấy cớ đau mắt nặng để cáo quan về hưu ẩn dật, Nguyễn Khuyến đã mang nặng mặc cảm bất lực trước thời cuộc. Trong bài thơ Di chúc, ông có những câu thơ đau đáu đến từng chữ.
Ơn vua chưa chút báo đền
Cúi trông hổ đất, ngửa lên thẹn trời.
Cho nên, thấm đẫm trong Thu điếu là tâm sự rối bời trước thời thế của ông, ôm cần buông câu để tiêu sầu mà mối sầu càng đọng lại trong tư thế bất động, thấy chiếc “ lá vàng trước gió khẽ đưa vèo” mà thảng thốt thấy thời thế thay đổi quá nhanh, non sông đã rơi vào tay giặc mà mình chẳng thể làm gì để báo đền ơn vua, nợ nước.
Bài thơ kết lại trong cái thảng thốt khi trong im lặng bỗng có tiếng cá “ đớp động dưới chân bèo”. Chữ “đâu” được dùng thật thần tình, nó như cái giật mình thảng thốt, lại như cái ngơ ngác kiếm tìm của người mất phương hướng. Ba phụ âm đầu hữu thanh trong ba từ “ đâu đớp động” làm rung động câu thơ, rung động cả tâm hồn người đang mải suy tư. Dù chỉ là rung động mơ hồ (có mà như không) cũng đủ làm cho không gian mùa thu lắng lại tĩnh vô cùng. Đó cũng là  một nét thi pháp quen thuộc của thi pháp: lấy động tả tĩnh.
Tiếng Việt trong Câu cá mùa thu ở độ kết tinh, giản dị, trong sáng, tinh tế,uyển chuyển, có khả năng diễn tả những biến thái tinh vi của sự vật, nững uẩn khúc rất khó giãi bày tâm trạng. Vần “eo”“ tử vận”, oái oăm không dễ theo, đã được Nguyễn Khuyến dùng một cách thần tình để diễn đạt uẩn khúc của tâm tư.
Vẻ đẹp giản dị, thanh sơ của mùa thu làng quê Việt Nam; vẻ đẹp của tâm hồn Nguyễn Khuyến: trong sáng, bình dị, tinh tế và chân thành, rất gắn bó với những gì thuộc về quê hương và dân tộc…, đó là những gì đã làm cho bài thơ Câu cá mùa thu sống mãi trong lòng các thế hệ bạn đọc.

Chủ Nhật, 24 tháng 2, 2013

CHUYÊN TÌNH CỦA ANH PHÓNG VIÊN


CHUYỆN TÌNH CỦA ANH PHÓNG VIÊN
Có thể tui kể câu chuyện này các bạn cho tôi là bịa, tại vì nó diễn ra giống hệt câu chuyện ở trong các tuồng cải lương vậy đó.
Vào khoảng ngày 27, 28 tháng 2 năm 2010, Trường Đại học Cần Thơ tổ chức thi tuyển lớp Thạc sĩ Văn học Việt Nam nhằm đào tạo, bồi  dưỡng cho các thầy cô, hoặc các vị ở các sở phòng ban khác có liên quan đến ngành Văn ở các tỉnh lẻ có điều kiện đi học để trau dồi chuyên môn. Mặc dù vậy nhưng cũng có anh phóng viên ở miền sông nước Cà Mau cũng mon men lên Cần Thơ bon chen thi với người ta. Mặc dù không luyện thi bữa nào những cũng nhờ tài năng thiên bẩm của mình mà anh ấy cũng vừa đủ điểm đậu vào lớp Văn học Việt Nam khóa 17 của Trường Đại học Cần Thơ. Cũng hay, với sự góp mặt của anh ấy làm lớp sôi động hẳn lên, và anh ấy được 4 anh bạn còn lại đặt một biệt danh là Triệu Tử Long bởi vì anh ấy luôn luôn đi đầu cứu chúa (Nhậu thay thế đấy). Nhưng nước đời lắm nỗi, phải chi anh ấy đi học được bình yên như những người bạn khác đâu. Lúc mới vào thì nói thiệt cũng ghét lắm, ghét cái bản mặt cà chớn của hia ấy. Nhưng qua mấy lần đi uống cà phê thì mới biết được anh ấy rất tốt. Ngay trong tuần đầu thì anh ấy cũng tâm sự là anh ấy cũng có người iu ở dưới Cà Mau (mà nghe nói đâu hai, ba mối tình gì đấy).
Nhưng đi học được đâu khoảng mười ngày thì anh ấy nhận được hung tin là người iu làm chung cơ quan đi lấy chồng (nói thẳng ra là bị đá mà không hiểu sao)mà chồng cô ấy là bạn làm chung trong cơ quan mới đau chứ. Được tin dữ, anh ấy làm một việc cho lợi gan mình là quen với chị bạn của anh ấy thời học đại học, tên cũng thơ mộng lắm, gắn liền với lời trong bài hát Phượng hồng “ Chùm Phượng vĩ em cầm…” cũng cùng quê với anh ấy. Quen đâu cũng được một thời gian vài ba tháng, cô ấy cũng lên Cần thơ học cao học ngành Văn nhưng khác lớp. Tưởng đâu hai người lên học ở gần nhau thì thêm thắm đậm tình cảm nhưng thật đau lòng thay đầu  năm 2011 thì cô ấy cũng đi lấy chồng, thật trớ trêu, sao mà bị đá hai vố đau quá, cuộc tình duyên sao mà đen thui như tối ba mươi vậy (nói thì nói vậy chứ anh ấy nói là mình cho họ lựa chọn, sự chân chất của con trai miền Tây là thế). Để khỏa lấp nỗi buồn từ hai mối tình vừa vụt mất, anh bắt đầu quen với cô bé học chung lớp của mình, cũng xinh xắn, thùy mị dễ thương lắm nên có biệt danh là “Bé Miu”, quê ở tận Vĩnh Long, cách Cà Mau cũng khá xa, nhưng không biết anh phóng viên của tui tỏ tình iu đương với bé như thế nào mà chỉ duy nhất một tháng sau thôi, bé đã đi lấy chồng mà chú rể không phải là anh. Haizzzzzzzzz, người iu người ta đi lấy chồng thì đến ngày cưới cũng phải đến mà nhìn nhau và chúc tụng lần cuối chứ. Đằng này anh gửi thiệp cho 4 anh bạn ở trong lớp đi giùm mà còn viết ở trong đó là “Em yêu, anh không thể nào chịu nổi khi thấy em ở bên người ấy, nên anh không thể đến dự chung vui cùng em”. Haizzz! Sao thế lại k biết nữa. Ôm mấy mối tình thất vọng này anh về Cà Mau quậy mấy đồng nghiệp, nghe nói đâu là có anh phóng viên chung cơ quan châm chọc anh nên anh đã cho một bài học và đã bị chuyển chỗ công tác. Bất đắc chí anh xin làm ở một nơi cũng có tiếng lắm. Là phóng viên Vờ tờ Vờ hẳn hoi ấy, nghe nói làm sao mà được một bà chị đại gia nhận làm em nuôi luôn. Vả lại khi đi làm, mấy ai mà làm mấy chuyện mờ ám thì sợ anh chạy mất dép luôn. Ôi, làm cho mấy tay này tay nọ sợ nhưng bản thân mình thì không dám đối diện sự thật khi người yêu mình đi lấy chồng hay khi bị Bồ Đá.
Đến bây giờ cũng chưa nản chí (ba mươi tuổi cũng ráng kiếm lại mảnh tình vắt vai chứ), đâu khoảng tháng nay, có lần anh tâm sự với tui là cũng muốn quen với cô bé ở Bình Minh, Vĩnh Long. Họ gặp gỡ nhau đâu mấy lần đi mua khoai lang gì ở bên đấy, nghe tưởng đâu xa lạ k biết, té ra bé ấy mình cũng quen. Nhưng mới chiều này anh gọi tui nó là bé có người iu, chuẩn bị đi lấy chồng, mà k biết có thiệt k. Nói người ta iu mà k dám nói xem ra anh cũng vậy. Anh mạnh dạn đập đổ chỗ này chỗ nọ sao mà k dám đánh vào trái tim đó chứ hả!?
Khổ. Sợ gì k sợ, đi sợ tình iu.!!!!!!!!!!(cũng phải, quen đâu là cũng bị đá)
Chuyện này chắc đúng rồi hé Đặng Công! Thì ra anh cũng giống như tui, có điều tui dám đối diện sự thật.
(Nếu biết người ta luôn đem lại mai mắn cho người khác thì phải xuống Bến Tre làm phóng sự người tốt việc tốt chứ ở đó mà ….)
(Phong Diệp coi có gì nhắc nhở giùm nhe, từ ngày anh ấy bị Mèo cắn vào trái tim nên anh ấy ôm hận lắm lắm đấy).
Câu chuyện tui kể chung chung (lời tường thuật mà) chắc cũng hơi bị nhàm chán bởi vì có một số nhân vật k thể nói trực tiếp được. Tui k phải trường phái châm chít người khác, nếu lỡ có gì thì có nước ở nhà mà húp cháo, k giống như Đặng Công có bà chị đại gia, rủi bị thất nghiệp thì bà chị cũng cho mỗi ngày bứt một cọng lông sư tử bán mà nuôi sống qua ngày được, sống hết đời cũng k hề gì (Có hai sư tử to đùng bằng vàng thật mà lại ). 

Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2012

TÓM TẮT VĂN BẢN TỰ SỰ THEO CHUYỆN NHÂN VẬT CHÍNH: AN DƯƠNG VƯƠNG, MỊ CHÂU, TẤM


TÓM TẮT VĂN BẢN TỰ SỰ THEO CHUYỆN NHÂN VẬT CHÍNH
Tóm tắt theo nhân vật An Dương Vương
An Dương Vương xây Loa Thành cứ đắp xong lại đổ. Mãi sau, nhà vua được thần Rùa Vàng giúp dỡ mới xây xong thành. Thần còn cho An Dương Vương  chiếc vuốt để làm lẫy nỏ chống giặc ngoại xâm. Triệu Đà đem quân sang xâm lược Âu Lạc nhưng bị đánh bại. Ít lâu sau, Triệu Đà cầu hôn Mị Châu- con gái của An Dương Vương- cho con trai mình là Trọng Thủy. Lợi dụng sự ngây thơ, cả tin của Mị Châu, Trọng Thủy đánh tráo lẫy nỏ thần mang về nước cho Triệu Đà. Triệu Đà lại cất quân sang xâm lược Âu Lạc. Mất lẫy nỏ thần, An Dương Vương thua trận bèn cùng Mị Châu lên ngựa chạy về phương Nam. Nhà vua cầu cứu Rùa Vàng và được thần cho biết: “Kẻ ngồi sau ngựa chính là giặc đó”. Vua hiểu ra bèn rút kiếm chém Mị Châu, sau đó cầm sừng tê bảy tất theo Rùa Vàng xuống biển.( Theo SGV Ngữ văn 10, tập 1)
Tóm tắt theo nhân vật Mị Châu
Mị Châu là con gái vua An Dương Vương. Sau khi vua cha xây được thành và có lẫy nỏ thần. Mị Châu được gả cho Trọng Thủy, con trai Triệu Đà, người đã đem quân sang xâm lược Âu Lạc và bị An Dương Vương đánh bại. Tin yêu chồng và mất cảnh giác, Mị Châu bị Trọng Thủy đánh tráo nỏ thần. Triệu Đà lại cất quân sang Âu Lạc và đánh bại An Dương Vương. Mị Châu theo cha chạy trốn, vừa chạy vừa rắc lông ngỗng chr đường cho chồng. Thần Rùa Vàng hiện lên và báo cho nhà vua biết Mị Châu chính là giặc. Trước khi bị vua cha chém, Mị Châu khấn: nếu mình có lòng phản nghịch thì chết đi sẽ hóa thành cát bụi, còn nếu một long trung hiếu mà bị lừa dối thì sẽ hóa thành châu ngọc. Mị Châu chết, máu chảy xuống nước, trai sò ăn phải đều biến thành hạt châu, xác biến thành ngọc thạch.(Theo SGV Ngữ văn 10, tập 1).
Tóm tắt truyện cổ tích Tấm Cám theo nhân vật Tấm.
Ngày xửa ngày xưa có cô Tấm hiền lành, xinh đẹp,mồ côi cha mẹ sống với dì ghẻ và cô em cùng cha khác mẹ tên là Cám. Tấm bị mẹ con Cám ghen ghét, ngược đãi. Đi hớt tép, Tấm bị Cám lừa trút hết giỏ tép đầy. Tấm nuôi cá bống, mẹ con Cám giết chết cá bống, Ngày hội, dì ghẻ trộn gạo lẫn thóc, bắt Tấm phải ở nhà nhặt xong mới được đi xem. Mỗi lần bị mẹ con Cám ngược đãi đau khổ. Tấm đều được Bụt hiện lên an ủi, giúp đỡ. Nhờ đến ngày hội, Tấm có quần áo, giày đẹp . Tấm đi xem hội, đến chỗ lội, đánh rơi một chiếc giày xuống nước. Nhờ chiếc giày rơi ấy, Tấm được vua biết đến và Tấm trở thành hoàng hậu. Mẹ con Cám lập mưu giết Tấm rồi đưa Cám vào trong cung, thế chỗ Tấm. Tấm biến hóa nhiều lần: Thành chim vàng anh, thành cây xoan đào, thành khung cửi. Mỗi lần Tấm biến hóa là một lần mẹ con Cám tìm cách hãm hại Tấm: khi thì giết thịt vàng anh, khi chặt cây xoan đào, khi đốt khung cửi. Cuối cùng Tấm hóa thành một một cây thị lớn mọc ở nơi xa cung vua, chỉ có một quả thật to. Một bà cụ bán hàng nước được quả thị ấy, mang về để ở nhà. Mỗi khi bà cụ đi vắng, từ quả thị, một cô gái- tức Tấm- chiu ra quét dọn, nấu ăn giúp bà. Rất ngạc nhiên, bà cụ để ý rình. Khi Tấm hiện ra, bà cụ vội lại xé ngay quả thị. Từ đó, hai người sống đầm ấm bên nhau. Một hôm vua đến uống nước, ăn trầu ở hàng quán bà cụ, thấy có miếng trầu do Tấm têm đã nhận ra vợ. Tấm trở lại cuộc sống hạnh phúc bên vua. Mẹ con Cám bị trừng trị thích đáng.